Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2018

MAKSIM GORKY TRONG HỒI ỨC CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI

0 comments





Evfeny Zamyatin: Nhà văn, nhà phê bình văn học, nhà chính luận, nhà biên kịch Nga (1884-1937)
Gorky không bao giờ làm một khán giả bình thường, ông bao giờ cũng thâm nhập vào trung tâm các sự kiện, ông khát khao hành động. Ông được nạp nhiều năng lượng đến mức nó trở nên chật chội trên trang sách và tràn ra cuộc đời. Bản thân cuộc đời ông là một cuốn sách, một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn. Bối cảnh, nơi diễn ra phần đầu của cuốn tiểu thuyết này, cực kỳ ngoạn mục, có thể nói, nó mang tính biểu tượng.

...Thành phố Hạ Novgorod, nơi nước Nga thế kỷ 16 và 20 song song tồn tại, là quê hương của Gorky. Ông đã lớn lên bên bờ Volga, dòng sông huyền thoại sản sinh ra hai lãnh  tụ khởi nghĩa nông dân Nga vĩ đại Razin và Pugachyov, Volga đã  đi vào lời ca tiếng hát của những người kéo thuyền Nga. Gorky trước hết gắn liền với dòng sông Volga: ông của nhà văn là một người kéo thuyền ở đây.
Đó là một người xuất thân từ tầng lớp dưới: ông bắt đầu cuộc đời bằng nghề kéo thuyền và kết thúc là chủ nhân của ba nhà máy gạch và một số ngôi nhà. Tuổi thơ của ngắn ngủi của Gorky đã trôi qua trong ngôi nhà của ông già hà tiện và nghiêm khắc này.  Năm 8 tuổi cậu bé bắt đầu làm phụ việc cho một  thợ đóng giày, cậu bị ném vào dòng sông cuộc đời ngầu đục, ở đó cậu phải tự bơi lấy một mình. Đó là cách giáo dục do người ông lựa chọn.
Tiếp theo là sự thay đổi chóng mặt địa điểm hoạt động,  những cuộc lãng du, nghề nghiệp, nó xích Gorky gần lại với Jack London, thậm chí với  François Villon, nhà thơ Pháp (1431-1463), đặt trong bối cảnh nước Nga thế kỷ XX. Gorky làm phụ bếp trên tàu thủy, Gorky bán tượng thánh (thật hài hước), Gorky  mua bán quần áo cũ, Gorky bán bánh mỳ, Gorky thợ khuân vác, Gorky ngư dân. Sông Volga, biển Kaspia, Astrakhan, núi Zhiguli, thảo nguyên Mozdok, Kazan. Và tiếp theo: sông Đông, Ukraina. Bessarabia, sông Danube, biển Đen, Krym, núi Kavkaz. Tất cả đều in dấu chân của Gorky cùng  với những kẻ lãng du không nhà, ngủ đêm trên thảo nguyên, bên đống lửa, trong các ngôi nhà bỏ hoang, dưới những con thuyền lật úp. Biết bao nhiêu sự kiện, cuộc gặp gỡ, tình bạn, cuộc ẩu đả, những lời tự vấn trong đêm! Một vốn sống hết sức phong phú cho nhà văn tương lai và trường học vô giá đối với nhà cách mạng tương lai!
Dmitry Merezhkovsky: Nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, nhà hoạt động xã hội Nga (1865-1941)
Không thể nói vài lời ngắn gọn về Gorky với tư cách một nghệ sĩ. Sự thật về con người chân đất do Gorky khắc họa nên rất đáng được quan tâm; nhưng chất thơ mà tiếc thay, ông cho là cần thiết để tô điểm sự thật này không có giá trị gì.
Tất cả những dòng thổ lộ tâm tình của tác giả, sự mô tả thiên nhiên, những cảnh yêu đương, chỉ là thứ văn học trung bình, nếu không nói là rất xoàng.
Nhưng những kẻ không nhìn thấy phía sau chất thơ đáng ngờ này một hiện tượng xã hội và đời sống lớn lao, trọng đại, còn sai lầm hơn nhiều so với những kẻ nhìn thấy ở Gorky nhà thơ lớn.  Các tác phẩm của Gorky không có nghệ thuật, nhưng trong đó có cái không kém phần giá trị hơn thứ nghệ thuật cao siêu nhất: đó là đời sống, nguyên sơ và chân thực, nó như một mảnh đời được cắt ra còn tươi nguyên máu thịt...Và giống như tất cả những gì sống động, đích thực, nó ẩn giấu có vẻ đẹp của riêng mình, thẩm mỹ của riêng mình. Vẻ đẹp đó có thể khó chấp nhận đối với những người tôn thờ nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng lại có sức hấp dẫn đối với những người yêu cuộc sống. Giống những con quỷ trong tranh của danh họa Goya vĩ đại, tất cả “những con người cũ” này vô cùng hiện thực, nếu không phải là chất hiện thực bên ngoài thì hiện thực bên trong: cứ cho là không có những con người như vậy trong thực tế, nhưng họ có thể có, họ sẽ xuất hiện. Đó là những hình ảnh tiên tri của một tâm hồn tiên tri. “Chứng thực là đúng với nguyên bản tâm hồn tôi”, Gorky đã ký như vậy dưới một trong những tác phẩm của mình, và tôi nghĩ, ông có thể ký như vậy dưới tất cả các tác phẩm.
 Mark Aldanov: Nhà văn, nhà chính luận Nga (1886-1957)
Tôi không bao giờ nằm trong danh sách bạn bè của Gorky,  nhưng tôi biết Gorky khá rõ, và có một quãng thời gian (1916-1918), tôi thường gặp ông. Trước cách mạng, tôi chỉ gặp ông ở nhà ông (ở Petersburg). Năm 1917, còn diễn ra một số cuộc gặp ở các ủy ban khác nhau về vấn đề văn hóa.
Flaubert đã để lại cho những người viết văn một lời di huấn: “Sống như tư sản và nghĩ như  á thánh!” Cả trước và sau cách mạng, Gorky đều sống rất “tư sản”, thậm chí vương giả. Và nếu tôi không nhầm thì hầu như hàng ngày bạn bè gần gũi nhất của ông đều tập trung ăn uống ở nhà ông. Đôi khi ông tổ chức những bữa tiệc thực sự, với khoảng 10 hay 15 thực khách. Trước năm 1917, tôi rất thích thú và hân hạnh được đến thăm căn hộ mến khách của ông trên đại lộ Kronversky. Gorky là một chủ nhà vô cùng lịch thiệp. Ông hết sức yêu quý tất cả những niềm vui cuộc sống. Cụ thể, thích rượu vang ngon (mặc dù không bao giờ say rượu). Sau một vài ly ông trở nên rất dễ thương và vui vẻ. Sẵn lòng nghe người khác nói, môi mỉm cười (ông có nụ cười trẻ thơ và cực kỳ hấp dẫn).                                                                                                            Bản thân Gorky cũng rất thích trò chuyện. Trong đời mình ông nhìn thấy rất nhiều và kể rất hay về những gì mình đã trải. Quả thật, đáng tiếc là như phần lớn những người kể chuyện giỏi, ông hay lặp lại. Chẳng hạn, câu chuyện ông yêu thích về một người Tác-ta nào đó mà ông muốn cứu thoát khỏi nhà tù, tôi đã nghe hai, ba lần. Để được giải phóng anh chàng người Tác -ta hình như phải gia nhập đạo chính thống, vì vậy Gorky đã đến gặp các nhân vật có thế lực xin giúp đỡ, nhà văn kể về các cuộc gặp đó. Câu chuyện được được kể rất hấp dẫn, nhưng tôi không biết nó chính xác mức nào.
Vladislav Khodasevich: Nhà phê bình văn học, chuyên gia về Pushkin (1886-1939)
Phần lớn các cuộc tiếp xúc của tôi với Gorky diễn ra trong khung cảnh nông thôn, khi bản tính tự nhiên của con người không bị che khuất bởi những cảnh đời thành thị. Vì vậy đầu tiên tôi muốn đề cập tới những đặc điểm bên ngoài của cuộc sống  Gorky, những thói quen hàng ngày của ông. Ngày mới của ông bắt đầu sớm: ông thức dậy khoảng 8 giờ sáng và sau khi uống xong cà phê và nuốt hai quả trứng sống, ông làm việc một mạch đến 1 giờ chiều. Bữa trưa bắt đầu lúc 1 giờ và kéo dài 1 tiếng rưỡi cùng với các câu chuyện sau khi  ăn. Sau đó Gorky bắt đầu đi dạo.
Sau khi đi dạo, ông lại ngồi vào bàn viết đến khoảng 7 giờ tối. Bàn viết bao giờ cũng to, rộng, trên đó các đồ dùng văn phòng được sắp xếp rất ngăn nắp. Aleksey Maksimovch thích loại giấy tốt, bút chì nhiều màu, ngòi và bút mới, ông không bao giờ dùng bút máy. Bên cạnh đó là hộp đựng thuốc lá và một bộ tẩu đủ màu: đỏ, vàng, xanh. Ông hút nhiều thuốc lá.
Khoảng thời gian từ lúc đi dạo đến bữa ăn tối ông chủ yếu dành cho thư từ, đọc bản thảo được gửi đến nhiều vô kể. Ông trả lời những bức thư ngay lập tức. Ông đọc hết sức chăm chú những bản thảo và sách (đôi khi nhiều tập) và viết các ý kiến của mình rất tỉ mỉ trong các bức thư gửi cho tác giả. Ông không chỉ ghi các nhận xét vào bản thảo mà còn sửa các lỗi chính tả. Với các cuốn sách ông cũng làm như vậy: ông sửa tất cả các lỗi in sai với sự cần mẫn của một cán bộ chữa mo-rát. Đôi lúc ông  cũng làm như vậy với các tờ báo và sau đó ông ném ngay vào sọt rác.
Aleksandr Serafimovich: Nhà văn Liên Xô (1863-1949)
Gorky biết tập hợp xung quanh nhà xuất bản “Tri thức” tất cả những tác phẩm xuất sắc nhất của các nhà văn. Những gì không có giá trị ông bỏ đi một cách không thương tiếc.
Gorky không chỉ là nhà văn vô sản thiên tài và sống mãi mà còn là một nhà tổ chức tuyệt vời. Hai đặc điểm này làm nên tính cách nổi bật của ông. Sức mạnh sục sôi trong lồng ngực ông lan tỏa ra xung quanh. Khát khao mãnh liệt, năng lượng tràn trề trong lồng ngực Aleksey Maksimovich thể hiện khắp nơi, trong các cuộc gặp gỡ với mọi người, trong các nhận xét về con người, trong việc lựa chọn tác phẩm của các nhà văn trẻ, trong những lời hướng dẫn về cách viết văn, phản ánh các hiện tượng của đời sống, dư luận xã hội, trong tất cả mọi thứ xung quanh.
Trần Hậu (Theo Eskimo.ru)


Read full post »

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

KAZUO ISHIGURO – NHÀ VĂN CỦA MỘT THẾ GIỚI MONG MANH

0 comments


                                 Nhà văn Kazuo Ishiguro

            Giải Nobel văn học 2017 được trao cho nhà văn Anh gốc Nhật Bản Kazuo Ishiguro với nhận xét: “trong các cuốn tiểu thuyết cua mình bằng sức mạnh phi thường của cảm xúc ông đã khám phá cái sâu thẳm bên dưới những lý trí ảo giác kết nối với thế giới”. Lễ trao giải trọng thể sẽ diễn ra vào ngày 10 tháng 12 năm nay ở Stockholm, Thụy Điển.
Mấy năm gần đây, kể từ khi khi giải thưởng Nobel thay đổi thư ký (nhà sử học Peter Englund chuyển chức vụ này cho nhà văn, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Sara Danius, bà trở thành nữ thư ký đầu tiên trong toàn bộ lịch sử của giải thưởng, còn với tư cách viện sĩ Viện hàn lâm Thụy Điển bà ngồi ghế thứ 7, trước đây thuộc về Seima Lagerlof – người phụ nữ đầu tiên đoạt giải Nobel văn học), có cảm giác rằng giải thưởng đang tìm kiếm một chiều kích mới. Việc xây dựng những con đường mới, như chúng ta biết, là công việc không đơn giản, còn những ngôi sao mới mà Ủy ban Nobel đã chọn với tư cách người đoạt giải, đã làm cho công việc này trở nên khó khăn hơn. Khó tránh khỏi sự bỡ ngỡ.
Năm 2015, nữ văn sĩ Belorussia viết bằng tiếng Nga Svetlana Aleksievich đã đoạt giải Nobel văn học. Lúc bấy giờ quyết định trao giải Nobel cho các cuốn sách thực chất mang tính tư liệu của nữ văn sĩ viết về những người đương thời và những người tham gia các sự kiện của thế kỷ XX – thế kỷ của những cuộc chiến tranh và cải biến mang tầm quốc gia, được giới văn học và phê bình chuyên nghiệp đón nhận một cách hoàn toàn tích cực: giải thưởng Nobel mở rộng biên giới của văn học, và hiện nay những tác phẩm  như vậy cũng được coi là văn học. Những câu chuyện của những nữ chiến binh trong cuốn sách “Chiến tranh không có gương mặt phụ nữ”, của những người lính tham gia cuộc chiến tranh ở Afghanistan trong “Những cậu bé trong quan tài kẽm”, và những con người nhỏ bé, yếu đuối trong “Một thời quá khứ” về những năm 1990, trên quan điểm văn học - nghệ thuật cũng có giá trị như những cuốn tiểu thuyết của Patrik Modiano và Gustave Le Glézio, như thơ của Tomas Transtrome và Wistawa Szymborska.
Sự mở rộng biên giới văn học trong thời đại, khi non-fiction đã mấy năm nay, nếu không nói là nổi tiếng hơn thì cũng thú vị như fiction, là một điều dễ hiểu và tốt đẹp. Svetlana Aleksievich chỉ tô vẽ thêm bức tranh mà thôi. Cảm hứng nhân văn, cảm hứng công dân, đôi khi thậm chí mang tính chất tố cáo, tồn tại như một bộ phận hữu cơ trong những cuốn sách của bà, bỗng nhiên vượt thoát ra bên ngoài: trong nhiều bài trả lời phỏng vấn của mình, nữ văn sĩ trở nên vừa thiếu thận trọng trong việc dẫn chứng các sự kiện vừa say sưa với những đánh giá đời sống xã hội, khiến cho ngay cả những người hâm mộ tác phẩm của bà cũng cảm thấy lúng túng.
Việc trao giải Nobel văn học năm ngoái cho nhạc sĩ, ca sĩ Mỹ Bob Dylan, rõ ràng, gợi nhớ tới một chân lý cổ xưa rằng người ta không chỉ làm và đọc mà còn có thể hát thơ trên sân khấu, điều này gây ra không ít bối rối.  Ngôi sao ca nhạc đã phá vỡ tất cả những luật lệ của Ủy ban Nobel.

          Giải thưởng Nobel văn học 2016 đã làm được gì cho nước Nga và thế giới? Đầu tiên nữ thư ký Sara Danius suốt cả một buổi chiều tìm cách gọi điện thoại cho nhân vật của ngày, nhưng không thành công: nhạc sĩ “ngủ trước buổi biểu diễn” và là người duy nhất trên thế giới không biết

rằng ông vừa đoạt giải Nobel văn học. Thông tin được chuyển qua trợ lý. Sau đó Bob Dylan giữ im lặng gần hai tuần và trả lời rằng sẽ nhận giải thưởng, nhưng không đến dự lễ trao giải. Kết quả là nữ ca sĩ Patti Smith được cử đến dự lễ trao giải và hát bài hát của Dylan «A Hard Rain’s Gonna Fall».
Với diễn từ Nobel bắt buộc cũng xẩy ra nhiều điều khó xử. Diễn từ Nobel là điều kiện bắt buộc để nhận giải thưởng. Dylan không vội vã đọc diễn từ và “câu giờ” đến mức thư ký của Viện hàn lâm Thụy Điển phải gửi cho ông tối hậu thư: nếu trước ngày 10/6/2016, ông không đọc diễn từ thì sẽ không được nhận khoản tiền thưởng 8 triệu krona Thụy Điển (911.000 USD). Lúc bấy giờ nhạc sĩ gửi cho Viện hàn lâm Thụy Điển băng video diễn từ của mình. Nhưng điều này cũng không diễn ra suôn sẻ: hóa ra, có khoảng 20 câu trong diễn từ, ở phần nói về cuốn tiểu thuyết kinh điển của nền văn học Mỹ “Moby Dick” của nhà văn Herman Melville đã ảnh hưởng tới ca sĩ như thế nào, rất giống với phần tóm tắt về tác phẩm trên sparknotes.com. Đây là trang web cung cấp tài liệu học tập cho sinh viên ngành văn học và các ngành khác.
Hình như sau câu chuyện diễn ra với Bob Dylan, Viện hàn lâm Thụy Điển quyết định tạm hoãn việc thử nghiệm kéo dài biên giới văn học, và giải thưởng văn học 2017 được trao cho một nhà văn theo đúng nghĩa truyền thống của từ này, nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro.
Kazuo Ishiguro sinh năm 1954 Nagasaki, Nhật Bản, trong gia đình một nhà hải dương học. Năm lên 6 tuổi, bố mẹ chuyển đến Anh, nơi bố ông làm nghiên cứu khoa học tại Viện Hải dương học quốc gia. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Kazuo Ishiguro nghỉ học một năm: ông đi du lịch khắp nước Mỹ và Canada, chơi nhạc trong các câu lạc bộ và mơ ước trở thành  nhạc sĩ. Nhưng mơ ước này không trở thành hiện thực (sau này ông nhận bằng cử nhân tiếng Anh và triết ở University of Kent, Canterbury), tuy nhiên, kinh nghiệm biểu diễn của ông về sau được ông sử dụng trong tiểu thuyết “Không khuây khỏa”  (The unconsoled, 1995) – viết theo thủ pháp dòng ý thức, kể về một nhạc công piano trong dàn nhạc đấu tranh để được có tên trong danh sách luyện tập và biểu diễn ở một thành phố châu Âu không có tên. Tác phẩm này được trao giải Cheltenham. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn “Nơi ngọn đồi khói phủ”  (A pale view of hills) xuất bản năm 1982 viết về thành phố quê hương và tổ quốc mới. Tiểu thuyết là câu chuyện của một góa phụ Nhật sau khi con gái tự sát và chuyển đến Anh kể về sự tàn phá của Nagasaki.
Những người hâm mộ tác phẩm của Kazuo Nishiguro chia ra làm hai nửa ước lệ: những người coi Những gì sót lại của ngày” (The Remains of the Day, 1989) là tiểu thuyết xuất sắc nhất, và những người hâm mộ cuốn “Mãi đừng xa tôi” (Never Let Me Go, 2005).
Cuốn thứ nhất mang lại thành công lớn cho Kazuo Ishiguro, tiểu thuyết lấy bối cảnh nước Anh thời hậu chiến, viết về số phận một lão quản gia suốt đời phục vụ một gia đình giàu có, đối diện với sự vỡ mộng khi ông ta nhớ lại quãng đời của mình, những ký ức được đặt trên nền chiến tranh và sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít. Kazuo Ishiguro được trao giải Booker với cuốn tiểu thuyết này. Năm 1993, đạo diễn Mỹ James Ivory đã chuyển thể điện ảnh cuốn sách với sự tham gia các vai chính của Anthony Hopkins và  Emma Thompson.
Cuốn thứ hai là tiểu thuyết phản không tưởng nói về cuộc sống của những người  sinh sản vô tính, những đứa bé, trẻ vị thành niên, sau đó là những thanh niên sống như những con người bình thường: kết bạn, yêu đương. Danh tiếng của nhà văn càng nổi lên sau khi xuất hiện bộ phim chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết, đây là câu chuyện diễn ra ở nước Anh vào cuối thế kỷ XX; tại một trường nội trú người ta nuôi những đứa trẻ để hiến  các bộ phận cơ thể cho nhân bản vô tính. Tham gia bộ phim có Andrew Russell Garfield,  Keira Knightley, Carey Mulligan. Năm 2005, tiểu thuyết  “Mãi đừng xa tôi” được xếp vào danh sách 100 cuốn sách xuất sắc nhất theo bình chọn của tạp chí “The Times”.
Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Kazuo Ishiguro “Người khổng lồ bị chôn” (The Buried Giant) xuất bản năm 2015, được coi là một trong những tác phẩm lạ nhất và đồng thời là dũng cảm nhất của ông. Đây là tiểu thuyết-giả tưởng kiểu trung cổ, kề chuyện đôi vợ chống già bỏ làng ra đi tìm đứa con trai mất tích. Cuộc du hành của họ trở thành con đường dẫn tới những hồi ức riêng. Trên đường đi, họ chống chọi với những con rồng và những quái vật thần thoại khác. Đây là cuốn tiểu thuyết viết về đề tài ký ức cá nhân và ký ức tập thể.

Kazuo Ishiguro thường được so sánh với nhà văn Nga Vladimir Nabokov và nhà văn Ba Lan Joseph Condrad, hai tác giả đã sáng tác những tác phẩm xuất sắc bằng tiếng Anh vốn không phải là tiếng mẹ đẻ của họ.
Các nhà phê bình Mỹ và Anh nhận xét rằng Kazuo Ishiguro  (coi mình không phải người Nhật, mà là người Anh) đã có nhiều đóng góp để biến tiếng Anh trở thành ngôn ngữ phổ quát của văn học thế giới.
Các cuốn tiểu thuyết của Ishiguro đã được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ.

Trần Hậu (Theo báo Nga)
Read full post »

PHẢI CHĂNG TIẾNG NHẬT ĐANG LÂM NGUY?

0 comments


                                            Mizumura Minac
 Mizumura Minae là nhà văn, nhà phê bình văn học Nhật Bản. Bà sinh ở Tokyo, năm 12 tuổi cùng gia đình sang Mỹ. Bà học văn học Pháp ở Đại học Yale và sau đó làm nghiên cứu sinh. Giảng dạy văn học Nhật ở Đại học Prinston, Michigan và Stanford. Các tác phẩm của bà gồm: “Ánh sáng và bóng tối tiếp tục” (1990), “Truyện vừa tự truyện: từ tả sang hữu” (1995), “Truyện ngắn hiện thực (2002), v.v…Bà đã đoạt giải thưởng  Noma và Yomiuri. Hiện sống ở Tokyo. Xin trân trọng giới thiệu cuộc trò chuyện của bà với Kōno Michikazu, cựu tổng biên tập tạp chí “Chūō Kōron”.

Bảo vệ những ngôn ngữ không phải tiếng Anh

- Trong tác phẩm phê bình với tên gọi khá sốc “Khi tiếng Nhật lâm nguy”, bà gửi tới giới khoa học hai thông điệp. Thứ nhất, hãy dừng sản sinh ra những người biết nhiều ngoại ngữ mà rốt cuộc không biết một ngôn ngữ nào đến nơi đến chốn, tốt nhất là đào tạo một số chuyên gia thành thạo tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh. Và thứ hai, thay cho việc bắt học sinh phổ thông viết bài luận, nên chú ý nhiều hơn tới việc đọc các kiệt tác văn học tiền chiến Nhật Bản. Tôi nghĩ rằng thái độ nâng niu tiếng mẹ đẻ của bà cùng với việc mô tả sự khủng hoảng của nó hiện nay khiến nhiều độc giả xúc động mạnh mẽ.

- Nói thật, tôi không ngờ cuốn sách của tôi được hưởng ứng rộng rãi như vậy. Đối với các phương tiện thông tin đại chúng thông thường thì các ý kiến nhận xét phần lớn tích cực. Thế nhưng cuốn sách đã làm náo động Internet, gây bão tranh luận tại một số diễn đàn. Kỳ vọng chủ yếu đối với các ý kiến của tôi là ở chỗ cuốn sách của tôi xem nhẹ các tác phẩm văn học đương đại vốn cũng đáng được chú ý. Mục đích cuốn sách của tôi là trao đổi về việc làm thế nào bảo vệ tiếng Nhật trong thời đại tiếng Anh ngày càng thống trị và phổ biến, và liệu về nguyên tắc có cần làm điều đó không.
- Cụ thể, điều gì thúc đẩy bà viết cuốn sách này?
- Năm 12 tuổi, vì công việc của bố chúng tôi chuyển đến nước Mỹ, nơi tôi đã sống 12 năm trong môi trường Anh ngữ. Sau đó tôi trở về Nhật và dần dần bắt đầu ý thức rõ ràng rằng khoảng cách giữa hai ngôn ngữ này rất lớn xét về tương quan chất lượng và số lượng thông tin lưu truyền trong đó. Ví dụ, số lượng nghiên cứu sinh ngoại quốc trong các đại học Mỹ thường xuyên tăng lên. Có cảm giác rằng toàn bộ giới trí thức tinh hoa thế giới đổ xô vào nước Mỹ. Và sự phổ cập của Internet thúc đẩy quá trình này.Với sự hỗ trợ của Internet đã hình thành nên một cơ sở thông tin to lớn, giống như một thư viện toàn cầu, nơi bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến và đọc bằng tiếng Anh, thậm chí anh ta không sống trong môi trường Anh ngữ.
Có lẽ, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ phổ biến nhất hành tinh trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Nếu như chúng ta bỏ qua hiện tượng này thì vực thẳm giữa tiếng Anh và các ngôn ngữ khác càng tăng lên. Những con người thuộc bất cứ dân tộc nào lựa chọn lao động trí tuệ, dù muốn hay không đều bị cuốn hút vào môi trường Anh ngữ, và quá trình này không thể ngăn chặn được. Như vậy, đang xuất hiện tiền đề cho tất cả những thứ tiếng khác tiếng Anh dần dần biến thành một kiểu ngôn ngữ công xã chỉ để sử dụng trong sinh hoạt. Tôi cảm thấy rằng tất cả ngôn ngữ ngoài thế giới Anh ngữ hiện nay đang đứng giữa ngã ba đường.

Những hậu quả tiêu cực của nền giáo dục hậu chiến

- Bà nghĩ gì về thực trạng tiếng Nhật hiện nay?

- Tôi cho rằng một trong những tiêu chí qua đó có thể nhận xét về trình độ văn hóa của một đất nước nào đó là số lượng những tác phẩm văn học có giá trị lưu truyền trong xã hội. Hiện nay ở Nhật Bản, nếu không phải là bestsellers thì các cuốn sách không nằm lâu trên giá. Trong trường hợp ngược lại, cuốn sách không được sử dụng và bị chấm dứt xuất bản. Đồng thời đã xuất hiện một số lượng rất lớn các cuốn sách viết nghiệp dư, chất lượng kém tràn ngập các hiệu sách – in sách trở nên rất dễ dàng. Tôi nghĩ rằng kết quả thảm hại của việc áp dụng mô hình giáo dục dân chủ của Mỹ một cách méo mó đã trở nên nhãn tiền, khi sự tiếp nhận dễ dãi được đặt lên hàng đầu. Sau chiến tranh, số tiết học tiếng mẹ đẻ tại các trường phổ thông Nhật Bản dần dần giảm đi, và thay cho việc đọc các kiệt tác văn học tiền chiến người ta bắt các em học sinh đọc những cuốn sách đơn giản mà chính các em cũng có thể viết. Kết quả của việc học tập như vậy khiến người Nhật bắt đầu chờ đợi ở sách sự đơn giản và dễ dãi, và văn học cố điển tiền chiến đã hoàn toàn thoát khỏi cuộc sống của những người đương thời.
Mặc dù vậy, rất khó giải thích cho một người ngoại quốc rằng tiếng Nhật đang lâm nguy. Phần lớn người ngoại quốc sẽ cười vào mặt bạn nếu bạn bắt đầu than phiền về tình trạng bị áp bức của tiếng Nhật. Còn phải nói – ngôn ngữ của một đất nước có trình độ học vấn cao như vậy không thể lâm nguy. Nếu một người ngoại quốc không giỏi tiếng Nhật, chẳng hạn, như nhà văn Mỹ Hideo Levy viết tiếng Nhật và dễ dàng đọc văn học Nhật thì hoàn toàn không thể cảm nhận và thấu hiểu những kỳ vọng của tôi. 

Tiếng Nhật như là mẫu mực hình thành nên ngôn ngữ dân tộc

- Cuốn sách của bà trình bày tỉ mỉ quá trình hình thành ngôn ngữ viết Nhật Bản. Nếu như xem xét lịch sử thì mặc dù Nhật Bản nằm bên cạnh nền văn minh Trung Hoa phát triển cao, nhưng nhờ yếu tố địa lý nó tránh được số phận thuộc địa của Trung Quốc. Người Nhật đã học được cách dịch sách Trung Quốc, đồng thời phát minh ra hai bảng chữ cái của mình và tạo nên nhiều kiệt tác văn chương. Quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc Nhật Bản diễn ra song song với việc hình thành nhà nước dân tộc Nhật Bản dưới thời Meiji (Minh Trị 1868-1912), đó là một sự thật hiển nhiên..

- Vâng, ở đây cần nhắc lại sự phát triển các mối quan hệ tư bản chủ nghĩa vào thời kỳ Edo (1603-1868), khi không chỉ đã tồn tại việc in sách mà thương mại phát triển rất mạnh  giữa shogunate (Mạc Phủ) và các lãnh địa phong kiến. Về phương diện phát triển tư bản chủ nghĩa, Nhật Bản thời bấy giờ đã đạt được những thành tựu xuất sắc so với các nước phương đông. Những thành tựu ấy đã tạo đà cho giáo dục và kết quả là vào năm 1868 Nhật Bản bước vào thời Minh Trị với một trình độ văn hóa của nhân dân gần như cao nhất thế giới. Những tiền đề lịch sử như vậy đã cho phép tiếng Nhật khá nhanh chóng giành được một vị thế bền vững.
Thế nhưng người Nhật hiện nay tiếp nhận ngôn ngữ của mình như một lẽ đương nhiên, không hề suy nghĩ về chặng đường lịch sử độc đáo nó đã trải qua. Tôi không nghĩ người Nhật nhận thức một cách đầy đủ rằng một đất nước không phải châu Âu thời bấy giờ trong một thời gian ngắn như vậy đã có thể hình thành nên ngôn ngữ dân tộc để giáo dục nhân dân và sáng tác văn học. Có thể, điều này nghe hơi tự tin, nhưng  tôi cảm thấy rằng sự hình thành ngôn ngữ Nhật Bản có thể trở thành tấm gương cho những nước  đang đấu tranh vì sự thiết lập ngôn ngữ dân tộc của mình, đồng thời đánh thức tinh thần đoàn kết ở những nước đang ra sức duy trì và gìn giữ ngôn ngữ dân tộc.

Điều thần kỳ của văn học tiền chiến Nhật Bản

- Trong cuốn sách của mình bà chia ngôn ngữ thành ba nhóm chức năng. Thứ nhất là “phương ngữ”. Nghĩa là ngôn ngữ của một địa phương nhất định, chủ yếu là khẩu ngữ. Nhóm thứ hai là “ngôn ngữ phổ quát”, nghĩa là ngôn ngữ trong đó chuyển tải các kiến thức và tư tưởng phổ quát. Sinh thời đó là tiếng La tinh để đọc Kinh Thánh. Sau đó tiếng Pháp có những đặc điểm của ngôn ngữ phổ quát. Hiện nay trong lĩnh vực này tiếng Anh đứng đầu một cách vô điều kiện. Chiếm vị trí trung gian giữa hai phạm trù này là “ngôn ngữ dân tộc”. Ngôn ngữ dân tộc như là chiếc cầu nối liền khẩu ngữ bản địa với ngôn ngữ phổ quát bằng con đường phát triển ngôn ngữ viết, nó giống như ngôn ngữ thứ hai. Hy vọng rằng tôi truyền đạt chính xác nội dung phân loại của bà. Tiếp theo, bà khẳng định rằng sự xuất hiện nhiều kiệt tác văn học tiền chiến Nhật là nhờ trình độ phát triển cao của tiếng mẹ đẻ, có đúng thế không?

- Trên đỉnh cao của sự phát triển ngôn ngữ dân tộc thế nào cũng xuất hiện các nhà văn xuất sắc. Dưới thời Heian (794-1185) cùng với sự ra đời của chữ viết Kana đã xuất hiện các nữ văn sĩ lớn. Điều này cũng xẩy ra vào thời Minh Trị. Trong thời gian phục hưng Minh Trị năm 1868, chưa tồn tại tiếng Nhật như chúng ta biết hiện nay. Nếu như Nhật Bản trở thành thuộc địa của phương Tây thì tiếng Nhật có thể đã chuyển sang phạm trù “khẩu ngữ” và bị đẩy lùi bởi các “ngôn ngữ phổ quát” phương Tây. Thế nhưng Nhật Bản đã giữ được độc lập của mình, nên điều đó đã không xẩy ra. Cụ thể, nhờ có Fukuzava Yukichi và nhiều nhà khoa học khác, tiếng Nhật đã trở thành ngôn ngữ thích ứng với nhà nước đương thời và cho phép nhân dân tư duy ở cùng trình độ với các cường quốc khác trên thế giới. Nghĩa là tiếng Nhật đã vươn tới một trình độ phát triển, khi, là ngôn ngữ dân tộc, nó không bị tách rời với thế giới còn lại. Tiếp theo, tôi muốn nói về văn học. Tôi nghĩ rằng chính tiếng mẹ đẻ phát triển tới mức có thể diễn đạt thực chất tâm hồn Nhật Bản, đã cho phép Sōseki và nhiều nhà văn khác thời bấy giờ viết nên những kiệt tác bất hủ. Thật kỳ diệu là hơn 100 năm trước đã xuất hiện một hiện tượng như vậy trong nền văn học Nhật Bản.

- Tôi nghe nói rằng tác phẩm của Sōseki hoàn toàn không thể dịch được.
- Quả đúng như vậy. Các truyện ngắn của Sōseki khắc họa rất sinh động hiện thực của thời đại ông, tuy nhiên song song với điều đó một số tình tiết được mô tả đến mức chỉ có tiếng Nhật mới chuyển tải được những sắc thái ý nghĩa của chúng. Các tác phẩm của ông thường xuyên đặt ra câu hỏi về vị trí của nước Nhật trên thế giới. Những đoạn trích như vậy thậm chí sau hàng trăm năm khiến chúng ta, những người nói tiếng Nhật, không thể thờ ơ. Và chính những câu văn đó không thể nào dịch được. Tôi thực sự cho rằng nếu đọc tác phẩm của Sōseki  bằng ngôn ngữ khác thì không thể đánh giá chúng một cách trọn vẹn.
- Thời gian gần đây, trong giới xuất bản sách của Nhật Bản, xuất hiện ngày càng nhiều tên tuổi người ngoại quốc. Nhà văn Mỹ Levy Hideo mà bà nêu trên, sau đó là nữ văn sĩ Trung Quốc Yang Yi đã đoạt giải thưởng văn học Akutagava với những tác phẩm của mình viết bằng tiếng Nhật. Bà nghĩ gì về xu thế đó?
- Tất nhiên, thật phấn khởi là tiếng mẹ đẻ của chúng ta được người ngoại quốc đặc biệt quan tâm và họ bắt đầu viết sách bằng tiếng chúng ta. Hơn nữa, viết bằng tiếng Nhật khá dễ mặc dù không phải ai cũng ý thức được điều đó. Mặt khác, hiện nay computer tự viết chữ tượng hình thay cho chúng ta. Có thể viết một số câu hội thoại ngắn thành một dòng, và đọc rất thú vị. Nếu nói về những nhà văn nước ngoài nào tôi muốn nhìn thấy trong tiếng Nhật thì đó là những nhà văn đọc nhiều tác phẩm văn học xuất sắc bằng tiếng mẹ đẻ của họ, đồng thời nghiên cứu văn học Nhật Bản.

Tiếng Nhật như ngôn ngữ thiểu số

- Bà đã 12 năm xa rời môi trường ngôn ngữ Nhật và sống trong thế giới Anh ngữ. Tuy nhiên, sau đó bà trở về tổ quốc và bắt đầu viết truyện ngắn bằng tiếng Nhật. Nguyên dân nào dẫn tới điều đó?
          - Từ nhỏ tôi đã say mê văn học tiền chiến Nhật Bản. Vì vậy, tôi ấp ủ khao khát viết bằng ngôn ngữ này, trở thành một phần của nền văn học Nhật Bản. Tuy nhiên, trớ trêu thay, khi  viết xong truyện ngắn đầu tiên “Ánh sáng và bóng tối tiếp tục” (1990), tôi nhận thức sâu sắc rằng tiếng Nhật chiếm một vị trí rất nhỏ trên thế giới.Tôi tiếc là không trở thành nhà văn viết tiếng Anh. Mặt khác, nếu nhìn vào thế giới thì đối với phần lớn cư dân trái đất tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ lẫn ngôn ngữ thứ nhất, vì vậy, tôi đã xét lại quan điểm của mình và quyết định sẽ tiếp tục viết bằng tiếng Nhật. Mặc dù xét về mặt này, cảm giác của tôi đến nay vẫn mâu thuẫn…
Trở lại với phần đầu câu chuyện của chúng ta, giới trí thức trên thế giới càng ngày càng bị cuốn hút vào môi trường Anh ngữ. Không phụ thuộc vào đất nước đang sống, mọi người đọc và viết tiếng Anh ngày càng nhiều, đang diễn ra cái gọi là chảy máu chất xám ngôn ngữ. Trong tình hình đó, thành thực mà nói, tôi không cảm thấy lạc quan về việc một trăm năm nữa người dân bỗng nhiên muốn quay lại với tiếng Nhật, đọc và viết bằng tiếng Nhật; rằng tiếng Nhật sẽ trở về với trình độ trước chiến tranh.
Bất luận thế nào, nhất định phải giáo dục những độc giả biết suy tưởng. Chẳng hạn, Sōseki sống rất lâu ở Anh. Thế nhưng ông biết rằng khi ở Nhật vẫn còn những trí thức văn chương tầm cỡ Masaoka Siki, trở về nước ông có thể tiếp tục viết bằng tiếng mẹ đẻ và sẽ được hiểu.
          Người Nhật gặp may ở chỗ mặc dù chúng ta có một nền văn học cổ điển, kiểu như “Truyện về hoàng tử Genji”, nhưng chúng ta hoàn toàn không nhất thiết phải đọc lại nó để phát triển một ngôn ngữ văn học tốt. “Truyện về hoàng tử Genji” tất nhiên là một tượng đài văn học vĩ đại, nhưng tiếng Nhật sau thời phục hưng Minh Trị đã thay đổi nhiều đến mức hiện nay chỉ các chuyên gia mới có thể đọc nổi Genji trong nguyên bản. Thế nhưng chúng ta có nền văn học tiền chiến. Văn học thời đại Minh Trị, Taishō (1912–1926), thời kỳ tiền Shōwa (1926–1989) – là một nền văn học cổ điển sinh động xét trên quan điểm ngôn ngữ cũng như thế giới quan. Hơn nữa, ngôn ngữ của nền văn học này không khó đọc. Nhật Bản quả thật đã gặp may vì có một hành trang văn học độc đáo như vậy trong số các nước phương đông.

Về hiện thực Nhật Bản trong tiếng Nhật

- Khi nói rằng bà quyết định trở thành nhà văn, không xuất thân từ môi trường Anh ngữ, bà muốn ngụ ý gì?

- Có một câu hỏi không buông tha tôi: liệu người Nhật hiện nay có nhìn vào đất nước mình không. Sau thất bại trong chiến tranh đã xuất hiện những  xu thế phủ nhận tất cả những gì liên quan tới nước Nhật, và hiện nay tôi cảm thấy rằng trong đầu óc những người Nhật đương thời, đất nước chúng ta ngày càng phụ thuộc vào nước Mỹ. Văn học đương đại Nhật Bản dường như được sao chép từ văn học Mỹ và để cho có bản sắc nó được tô vẽ bằng một chút hiện thực Nhật Bản. Phải chăng người Nhật không nhận ra những khác biệt căn bản mang tính nguyên tắc giữa hai đất nước này không cho phép so sánh chúng?! Tôi nhìn thấy nhiệm vụ của mình với tư cách nhà văn Nhật Bản là chỉ ra một cách rõ ràng cho những người đương thời những khác biệt này, dường như chúng nằm trên bề mặt, thế nhưng vẫn không được nhận ra.
Ngoài ra, một điều rất quan trọng là đối lập thế giới Anh ngữ với thế giới quan bản địa của chúng ta, khác với những gì có thể viết bằng tiếng Anh. Một ví dụ tiêu biểu về vấn đề này là những bộ phim của Ozu Yasujirō. Khi quay những bộ phim này, ông không tìm cách làm vừa lòng người nước ngoài. Vì vậy, ông trình bày đời sống Nhật thời bấy giờ với những màu sắc rực rỡ, tự nhiên. Nhưng chính điều đó lại khiến người nước ngoài thích thú bởi sự độc đáo và không giống họ. Tất nhiên, chúng ta không thể so sánh văn học với điện ảnh, thế nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng về hiện thực Nhật Bản tốt nhất là viết băng tiếng Nhật. Điều quan trọng không phải là lao vào vòng xoáy của toàn cầu hóa, mà mô tả đời sống Nhật Bản như nó vốn có, bằng tiếng Nhật. Tôi nghĩ rằng đó chính là sứ mệnh của chúng ta với tư cách  những nhà văn Nhật Bản – những con người kịp thời chiếm lĩnh hoàn toàn tiếng nói dân tộc chúng ta.

Trần Hậu (Theo báo Nga)
Read full post »

“ANNA KARENINA”: TỪ PHIM CÂM ĐẾN PHIM BOM TẤN HOLLYWOOD

0 comments


 Vivien Leigh trong phim “An Karenina”


Tiểu thuyết “Anna Karenina” của đại văn hào Nga Lev Tolstoy đã được chuyển thể thành phim hơn 30 lần. Câu chuyện tình bi thảm này được dựng phim không chỉ ở Nga mà còn ở Đức, Anh Pháp, Mỹ, Argentina, Ai Cập và thậm chí Ấn Độ. Nhân dịp kênh truyền hình Nga “Rossia-1” vừa giới thiệu bộ phim nhiều tập của đạo diễn Karen Shakhnazarov “Anna Karenina. Câu chuyện của Vronsky”, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những bộ phim nổi bật nhất được chuyển thể theo mô típ của cuốn tiểu thuyết này.


“Anna Karenina” trong thời đại phim câm
Lev Tolstoy trở thành nhà văn cổ điển khi còn sống: vào cuối thế kỷ XIX, các tác phẩm của ông đã chinh phục không chỉ nước Nga mà tất cả độc giả trên thế giới. Lần đầu tiên, “Anna Karenina” được chuyển thể điện ảnh ở Đức vào năm 1910, nửa năm trước khi nhà văn qua đời. Rất tiếc, bộ phim câm này đến nay không còn nữa.
Gần như đồng thời với người Đức, ở Moskva đạo diễn Maurice Maître cũng làm phim “Anna Karenina”. Người ta biết rất ít về bộ phim này: vai Anna do nữ diễn viên Sorochtina đóng, còn vai bá tước Vronsky do Nikiolai Vasilyev.
           Lần thứ hai ở Nga, cuốn tiểu thuyết của Tolstoy được hãng “Timan và Reyngardt” chuyển thể năm 1914. Vai Anna do diễn viên sân khấu lão luyện Maria Germanova thực hiện, về sau bà sang Pháp sinh sống. Chính trong bộ phim này, nữ diễn viên Vera Kholodnaya lần đầu tiên tham gia vai phụ, về sau bà trở thành “nữ hoàng  điện ảnh câm của nước Nga”. Nhờ bộ phim này mà sự nghiệp đạo diễn của diễn viên Vladimir Gardin bắt đầu phát triển mạnh mẽ.

“Cuộc tình” và “Anna Karenina” với Greta Garbo, năm 1927 và 1935
Nữ diễn viên huyền thoại Mỹ gốc Thụy Điển Greta Garbo hai lần đóng vai Anna Karenina. Lần đầu tiên lúc còn phim câm năm 1927, trong phim “Cuộc tình”. Nhóm biên kịch của bộ phim đã viết hai đoạn kết: một bi thảm để phát hành ở châu Âu và một có hậu để phát hành ở Mỹ. Trong phương án Mỹ, Aleksey Karenin (Brandon Hurst) chết và góa phụ Anna Karenina tái giá với tình nhân của mình Aleksey Vronsky (John Gilbert)
Con trai của nhà văn xuất dương sang Mỹ, Ilya Tolstoy, phản đối đoạn kết có hậu. Các nhà biên kịch đã gặp ông và mời tham gia biên tập kịch bản vì họ rất muốn ghi tên ông để quảng cáo phim. Phụ đề của bộ phim viết rằng “con trai của nhà văn vĩ đại và nhà biên kịch cho rằng cuốn tiểu thuyết không bị thiệt hại khi chuyển thể thành phim”, thực ra điều này không đúng.
Các nhà nghiên cứu điện ảnh nhận xét rằng ngay cả trong phương án châu Âu cũng rất ít điểm chung với cuốn tiểu thuyết của Tolstoy: câu chuyện phim diễn ra không phải trong những năm 1870, khi cuốn sách được sáng tác, mà trong những năm 1920. Hơn nữa, Karenina gặp Vronsky không phải trên sân ga, mà khi đi qua sân ga trên xe trượt tuyết.
           Tuy nhiên, mặt mạnh của “Cuộc tình” là dàn diễn viên. Cặp đôi Greta Garbo và John Gilbert đã hóa thân vào các nhân vật một cách hoàn hảo - hai diễn viên thực sự có cảm tình với nhau. Họ dự định sau khi hoàn thành bộ phim sẽ tổ chức lễ cưới, nhưng Garbo đã bỏ trốn.
           Tám năm sau, Greta Garbo lại tham gia phim tiếng “Anna Karenina” của đạo diễn Clarence Brown. Vai Vronsky do  Fredric March thực hiện. Quan hệ giữa hai diễn viên ban đầu không suôn sẻ, nhưng điều đó không ngăn cản đoàn làm phim hoàn thành bộ phim được cả các nhà phê bình lẫn khán giả thích thú. Với vai diễn này Garbo được trao giải
của Hội phê bình phim New York NYFCC (New York Film Critics Circle)  trong đề cử “Vai nữ chính” và Giải Mussolini trong đề cử “Phim nước ngoài xuất sắc nhất” tại LHP Venice.

“Anna Karenina” với Vivien Leigh, năm 1948
Năm 1948, người Anh bắt đầu làm phim “Anna Karenina”: trên màn ảnh xuất hiện bộ phim do Vivien Leigh đóng vai chính. Vào thời điểm đó, bà đã là một nữ diễn viên nổi tiếng từng đoạt giải “Oscar” với vai nữ xuất sắc nhất trong phim “Cuốn theo chiều gió”. Bản thân nữ diễn viên không hài lòng với diễn xuất của mình: trong một bài trả lời phỏng vấn bà thừa nhận rằng không cảm thấy sự gần gũi nội tâm với nữ nhân vật. Mặc dù trong chính cuộc đời Leigh đã diễn ra một câu chuyện tương tự - một lần bà đã phải lựa chọn giữa chồng và tình nhân.
            Anna trong cách thể hiện của Vivien Leigh hoàn toàn đối lập với Anna của Greta Garbo. Nàng trở thành một người mẹ yêu đời, vui vẻ, thương con và một người vợ mẫu mực. Chính vì sự không phù hợp của bộ phim với cuốn tiểu thuyết này mà nhiều nhà phê bình điện ảnh phê phán bộ phim. Tuy nhiên, bộ phim đã thành công ngoài sự mong đợi – khán giả thực sự tấn công các rạp chiếu phim. 
Anna Karenina” của Vivien Leigh ngay cả hiện nay cũng là một bữa tiệc thực sự mãn nhãn. Trang phục của các nhân vật được thiết kế bởi nhà nhiếp ảnh và tạo mẫu nổi tiếng  Cecil Walter Hardy Beaton. Cuối những năm 1940, ở Anh thiếu vải, vì vậy để may váy cho Vivien Leigh Beaton đã phải sang Pháp.

            “Anna Karenina” với Tatyana Samoylova, năm 1967
Năm 1967, đạo diễn Liên Xô Aleksandr Zarhi bắt đầu làm phim theo mô típ tiểu thuyết của Tolstoy và mời nữ diễn viên Tatyana Samoylova đóng vai chính. Bà đã thành công trong phim “Đàn sếu bay qua” và “Bức thư không gửi” của Mikhail Kalatozov. Tuy vậy, nhiều người khuyên đạo diễn đừng chọn Samoylova: với ngoại hình hơi mập, thấp, mắt xếch, bà không hề giống nhân vật Karenina tinh tế của Tolstoy. Tuy nhiên, thời gian đã chứng mình sự đúng đắn của Zarhi: không những khán giả mà ngay cả các nhà phê bình điện ảnh trong và ngoài nước cũng hết sức thán phục diễn xuất của Tatyana Samoylova.
            Vai Vronsky được giao cho Vasily Lanovoy, vốn là chồng cũ của Tatyana Samoylova, họ đã chia tay nhau 10 năm. Sau này Lanovoy nhớ lại: “Chúng tôi diễn Anna và Vronsky dễ dàng vì đã từng trải qua nhiều cảnh ngộ tương tự”.

“Anna Karenina” với Maya Plisetskaya, 1974
Năm 1967, lần đầu tiên ngôi sao vũ ba lê Maya Plisetskaya tham gia bộ phim chuyển thể của Aleksandr Zarhi, bà đóng vai nữ công tước Betsi bạn gái của Karenina. Nhạc phim do Rodion Schedrin (chồng của Maya Plisetskaya) viết, mấy năm sau, được cải biên thành vở ba lê “Anna Karenina” hoàn chỉnh, và năm 1972, Maya Plisetskaya đã đóng vai chính trong tác phẩm này trên sân khấu “Nhà hát lớn”.
           Ngoài diễn xuất tuyệt vời của Plisetskaya, phim-ba lê “Anna Karenina” còn nổi tiếng bởi đích thân nhà tạo mẫu Pháp Pierre Cardin đã thiết kế trang phục cho bộ phim – đây là một sự kiện lớn đối với nền công nghiệp điện ảnh Xô viết.

           “Anna Karenina” với Sophie Danièle Sylvie Marceau, 1997
Phim “Anna Karenina” của đạo diễn Mỹ Bernard Rose là một trong những chuyển thể nổi tiếng nhất và đồng thời gây tranh cãi nhất của cuốn tiểu thuyết. Nhiều nhà phê bình điện ảnh cảm thấy câu chuyện phim được kể qua loa và quá vội vàng. Các chuyên gia cũng rất bất bình bởi sự sai lệch nghiêm trọng giữa bộ phim và cuốn tiểu thuyết: ví dụ, trong phim, Karenina bị sẩy thai, mặc dù trong tiểu thuyết nàng đã sinh một con gái từ Vronsky. Họ còn ngạc nhiên vì đạo diễn mô tả Anna là một người nghiện morphine. Trong sách của Tolstoy, chỉ một lần bà xin morphine lúc sinh để giảm đau, trong phim bà dùng morphine thường xuyên.
           Bộ phim cũng bị lên án vì có quá nhiều cảnh chăn gối giữa cặp tình nhân: các nhà phê bình có ấn tượng rằng giữa Anna và Vronsky chỉ có sự đam mê tình dục và không có tình cảm gì. Thế nhưng, khán giả lại yêu thích bộ phim này vì bối cảnh đẹp, trang phục, âm nhạc sang trọng, và
Sophie Danièle Sylvie Marceau tinh tế với cái bờm kỳ cục mà trong những năm 1870 không thể có.
            Trong số những bộ phim nước ngoài chuyển thể cuốn tiểu thuyết, quần áo và tư trang trong “Anna Karenina” của Rose là hợp mốt thế kỷ XIX nhất, được thiết kế bởi họa sĩ trang phục Ý nổi tiếng Maurizio Millenotti.

           “Anna Karenina” với Tatyana Drubich, năm 2008
            Ban đầu đạo diễn Sergey Solovyev định biến phim “Anna Karenina” thành phần tiếp theo phim “Assa” của mình. Nhưng trong quá trình viết kịch bản, “Anna Karenina” trở thành một chuyển thể trọn vẹn và độc lập của cuốn tiểu thuyết. Vai nữ chính do Tatyana Drubich đảm nhiệm- vào thời điểm đó, nữ diễn viên đã 49 tuổi, mặc dù theo cuốn tiểu thuyết Karenina chưa đến 30. Bộ phim là vai diễn cuối cùng của Aleksandr Abdulov (Stiva) và một trong những phim cuối cùng của Oleg Yanovsky (Karenin).
            Nhưng dàn diễn viên xuất sắc không cứu vãn bộ phim trước sự tấn công của các nhà phê bình và khán giả - ngay lập tức nó bị coi là một trong những bộ phim kém nhất trong lịch sử. Chuyển thể của Solovyev bị phê phán bởi cốt truyện thiếu mạch lạc, bối cảnh tẻ nhạt và sự lạnh lùng của Drubich. Diễn xuất của Yaroslav Boyko trong vai Vronsky cũng không thuyết phục- ông bị chê là thiếu những đặc điểm cần thiết đối với bá tước trẻ như dáng dấp, chất quý tộc, sức  cảm hóa của một sĩ quan.

“Anna Karenina” với  Keira Knightley, năm 2012
Đạo diễn Joe Wright xây dựng bộ phim thử nghiệm và chuyển tất cả các sự kiện vào bối cảnh sân khấu: hậu trường là các đường phố, còn địa điểm xẩy ra câu chuyện được thể hiện bằng các slide phong cảnh Petersburg và Moskva trước cách mạng. Hơn nữa, Wright đã đơn giản hóa cốt truyện và tính cách các nhân vật – vì thế ông bị các nhà phê bình và khán giả phê phán. Nhưng đạo diễn không có kỳ vọng chuyển thể cuốn tiểu thuyết một cách chính xác:  “Anna Karenina” đối với ông chỉ là cái cớ để bàn về sự mục nát của xã hội thượng lưu và tiếng vọng của một cuộc cách mạng đang đến gần. Vì vậy, thậm chí tên tuổi của Lev Tolstoy cũng không được viết đầu tiên trên phụ đề, mà ở vị trí thứ hai sau biên kịch Tom Stoppard.
Trần Hậu

(Ảnh: Vivien Leigh trong phim “Anna Karenina”)
Read full post »

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

0 comments
LẤY CHỒNG
          Năm 1942, biên giới Nam Tư-Bulgaria được thiết lập, dòng người từ Petrich, các làng lân cận và các địa phương khác xa hơn bắt đầu tìm đến Vanga.
         Ai cũng muốn biết điều gì đang chờ đợi mình và các thành viên gia đình trong tương lai. Nhiều con bệnh cũng đến gặp Vanga với hy vọng được chữa khỏi bệnh.
         Một lần, có mấy người lính thuộc trung đoàn quân nhu 14, quân đội Bulgaria, đến gặp Vanga. Trong số họ có một người tỏ ra rất lo lắng điều gì đó và muốn trao đổi trực tiếp với riêng cô. Đó là anh Dimitr Gushterov từ làng Kryndjilitsa thuộc vùng Petrich.
         Anh trai anh ta bị những tên ác ôn ăn cắp rồi giết chết, để lại ba đứa con mồ côi và bà vợ góa đang bị bệnh lao.
         Dimitr bối rối đi lại trong sân, không dám vào nhà. Bỗng nhiên cánh cửa mở ra và trên ngưỡng cửa xuất hiện Vanga, cô gọi tên anh ta và nói:
         “Tôi biết anh đến đây vì việc gì. Anh muốn tôi cho anh biết kẻ nào đã giết anh trai của anh. Có thể, sau này tôi sẽ nói, nhưng anh phải hứa với tôi là không trả thù họ, vì không cần thiết làm điều đó. Anh sẽ sống đến ngày tận mắt nhìn thấy bọn chúng sẽ kết thúc thảm hại”.
           Những lời Vanga nói khiến Dimitr Gushterov kinh ngạc đến mức chân anh tưởng như khụyu xuống khi bước ra khỏi nhà. Anh không thể nào cắt nghĩa nổi vì sao cô biết được tên anh, đoán biết được những điều anh ấp ủ trong lòng. 
         Về sau anh còn mấy lần nữa đến gặp cô gái kỳ diệu này để giãi bày tâm sự và nhờ cô giúp đỡ. Họ trò chuyện với nhau rất lâu trong căn phòng nhỏ của cô.
         Ngày 20 tháng 4, Vanga nói với em gái rằng Dimitr ngỏ lời cầu hôn cô và sẽ đưa hai chị em về sống ở Petrich.
          Dạo ấy mấy người em trai không ở nhà, Vasil đi lính ở Dupnitsa, còn Tome đi làm ăn ở tận bên Đức.
          Ngày 22 tháng 4, một cỗ xe dừng lại trước nhà Vanga. Từ trong xe, Dimitr ăn mặc đẹp, hồi hộp bước ra. Sàn xe được trải cỏ thơm và hoa, còn phía trên đặt một tấm thảm màu sặc sỡ để hai chị em thoải mái lúc đi đường.
         Tin Vanga lên xe hoa nhanh chóng lan khắp vùng, những người hàng xóm và quen biết kéo đến để chia tay với cô. Một số người thậm chí còn trách cô bỏ quê hương ra đi.
         Vanga không để ý tới lời họ nói, vì cô chia tay không chỉ với quê hương mà cả những hồi ức nặng nề, sự nghèo khổ và số phận buồn thảm của một đứa trẻ mồ côi. Hai chị em hy vọng rằng cùng với việc thay đổi chỗ ở, cuộc sống của họ cũng sẽ tốt đẹp hơn.
          Của hồi môn của cô dâu chỉ mang tính tượng trưng. Vanga choàng tấm khăn len đỏ do cô tự đan, mang theo cái nồi đồng nhỏ và cái bình toong – toàn bộ hành lý chỉ có vậy.  
         Họ treo chiếc khóa sắt gỉ lên cánh cửa và lên đường, cỗ xe lăn bánh trên con đường gồ ghề dẫn tới Petrich. Họ lặng lẽ ra đi, lòng thầm nhớ Strumitsa và nghĩ về tương lai.
          Họ đến Petrich vào buổi chiều ngày hôm đó. Cỗ xe dừng lại trước một ngôi nhà thấp lè tè, dưới con số 10 trên phố Dân binh. Dimitr đưa tay cho vợ chưa cưới, giúp cô xuống xe.
          Những kẻ tò mò không giấu nổi sự thích thú khi quan sát người hàng xóm tương lai của họ từ cửa sổ căn phòng của mình. Gương mặt thanh tú, nhợt nhạt ẩn trong mái tóc màu hạt dẻ toát lên sự bình thản và cương nghị. Với vóc người nhỏ nhắn, mảnh mai, trong tấm áo dài sờn cũ nhưng sạch sẽ, Vanga tự tin bước xuống xe, không hề để ý tới những kẻ ngồi lê mách lẻo cho rằng một cô gái như vậy trong nhà chỉ là của nợ cho gia đình.
         Sự tò mò của những người hàng xóm được nhân lên bởi một yếu tố khác, hết sức cơ bản. Ở đây không chỉ nói về một cô gái bình thường, không có gì đặc biệt, ngoài sự mù lòa mà về nhà tiên tri Vanga, về tài năng khác thường của cô – khả năng dự báo tương lai và giúp đỡ mọi người giải quyết những khó khăn trong cuộc sống, chữa trị các loại bệnh khác nhau, điều mà họ đã được nghe và biết ở cái thị trấn vùng biên này. Vì vậy, sự tò mò hoàn toàn có thể lý giải được.
         Lubka chăm chú quan sát nơi ở mới của họ. Ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo, mái nhà dường như sẵn sàng đổ sụp xuống bất cứ lúc nào.
        Trước nhà là một khoảng sân trống không bị bỏ hoang. Họ bước vào một hành lang tối, dài và bẩn thỉu. Hai căn phòng nhỏ được bố trí hai bên dãy hành lang. Một phòng về sau trở thành phòng ngủ của đôi vợ chồng mới cưới, còn phòng kia là nơi Vanga tiếp khách.
         Về sau họ xây thêm một căn phòng nữa dành cho bà mẹ 70 tuổi của Dimitr, ba đứa con của người anh bị giết và hai đứa con của một người anh khác. Tất cả họ đều ngủ trên tấm phản gỗ, không có đệm. Tá túc trong một xó của ngôi nhà là bà vợ góa của anh trai bị bệnh lao.  Nhìn đâu cũng thấy sự bẩn thỉu và nghèo khổ.
          Vanga đánh đổi cuộc sống nghèo khổ, đầy mất mát của mình lấy một cuộc sống không kém phần nghèo khổ và khó khăn.
         Ngày 10 tháng 5 năm 1942, Vanga kết hôn với anh Dimitr Gushterov 23 tuổi và trở thành bà nội trợ trong ngôi nhà của mình. Bắt đầu một cuộc sống không dễ dàng.
          Bà mẹ chồng thậm chí không muốn giấu diếm sự bất bình về lựa chọn của con trai. Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên với nàng dâu, bà đã nói thẳng: “Ôi, con trai, lẽ nào đó là số phận của con?”
         Có lẽ, bà hy vọng con trai sẽ mang về nhà một cô gái nông dân khỏe mạnh. Bởi vì cần phải làm ruộng và chăm lo cho gia đình của người con cả với người vợ đang sắp chết, 5 đứa trẻ mồ côi, đã thế lại còn thêm cả Lubka.
          Vanga lặng lẽ nuốt vào lòng sự tủi nhục và chẳng bao lâu cô đã chứng minh được khả năng của mình. Vanga không sợ những lời đàm tiếu lẫn sự nghèo khổ, vì cô không những có cá tính mạnh mẽ mà còn nhiều kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh sinh tồn tích lũy được hầu như từ khi mới lọt lòng.
          Từ sáng đến tối, Vanga cùng Lubka không biết mệt mỏi giặt giũ, quét dọn, lau chùi, sửa chữa, sơn phết, và chẳng bao lâu ngôi nhà của họ trở nên sáng choang.
          Họ cũng thực hiện một số sửa đổi ngoài sân. Vanga cấm những người ở các làng lân cận bán hàng trong sân nhà mình.
        Cuộc sống đi vào nền nếp và không khác gì cuộc sống của những gia đình khác trong thời chiến. Nhưng điều đó diễn ra không lâu. Ít lâu sau, mọi người biết rằng ở Petrich xuất hiện một nhà tiên tri. Thông tin đó lan đi rất nhanh. Những đoàn người lại đổ về ngôi nhà của Gushterov trên phố Dân binh.
          Người chồng không thích điều đó. Dimitr cho rằng người phụ nữ có chồng chỉ nên lo toan công việc gia đình. Anh rất tôn trọng Vanga và  tài năng của chị, nhưng trong chừng mực nào đó, điều đó làm tổn thương lòng tự trọng của anh, vì anh cho rằng mình đủ khả năng bảo đảm cuộc sống gia đình.
          Vanga cũng rất yêu quý và tôn trọng chồng như một con người và một người chồng, nhưng cô cho rằng thiên chức của cô là phục vụ con người. Hơn nữa, tài năng của cô không để cô yên, đòi hỏi cô thường xuyên tự thể hiện.
         Trong những năm chiến tranh, ở vùng này có nhiều người tham gia du kích, họ trốn trong rừng, chiến đấu chống bọn phát xít. Người thân của họ thường đến gặp Vanga để hy vọng tìm hiểu điều gì đó về họ.
         Những cuộc viếng thăm như vậy không còn bí mật đối với cảnh sát. Đại diện của “trật tự mới”, Dimitr Sugurov và Boris Lazarov hầu như ngày nào cũng ghé qua nhà Vanga, dọa dẫm cô, yêu cầu cô kể về những điều cô nói với người thân của “kẻ thù chế độ mới”. Nhưng Vanga im lặng.
          Trong thời gian đó, bắt đầu một đợt động viên quân sự. Dimitr cũng nhập ngũ, anh được điều tới phục vụ tại một đơn vị ở Hy Lạp. Lúc chia tay, anh hứa với Vanga rằng nếu sống sót trở về anh sẽ xây cho cô một căn nhà mới đẹp tuyệt vời để ở đó cô quên đi những nỗi bất hạnh của mình.
          Còn Vanga chỉ khuyên chồng: “Hãy tránh xa nước”.
          Mùa xuân năm 1944, chồng Vanga trở về từ Hy Lạp, người anh gầy chỉ còn da bọc xương. Dimitr yếu đến mức không đủ sức làm được việc gì.
          Phải sang năm sau, sức khỏe của Dimitr mới dần dần hồi phục và anh có thể bắt tay vào xây ngôi nhà mới như đã hứa với Vanga. Anh có đôi tay khéo léo và tài năng thợ xây, mặc dù không được học ngành này bao giờ. Dimitr tự làm lấy mọi việc, trừ những việc nặng nhọc.
         Đồng thời, thông tin về Vanga ngày càng lan rộng. Ngày càng có nhiều người đến gặp cô xin giúp đỡ. Cô thức dậy khi còn chưa rõ mặt người, chuẩn bị bữa ăn cho cả gia đình, nhào bột làm bánh mỳ, sau đó tiếp khách, giúp đỡ họ tìm lại hy vọng và niềm tin.
          Năm 1944, hai anh em Tome và Vasil trở về nhà. Sau một thời gian sống ở Đức, Tome về định cư ở Strumitsa. Anh trai Vasil từng đóng quân ở làng Lahana tận Hy Lạp, bất ngờ xuất hiện ở Petrich.
          Anh nói với Vanga rằng sẽ trở về Strumitsa và tham gia du kích.Thời gian này ở vùng Strumitsa, người ta thành lập lữ đoàn du kích Makedonia với sự tham gia của rất nhiều thanh niên để chiến đấu chống bọn phát xít Đức. Vasil và Lubka quyết định ra đi mà không nói gì với Vanga.
          Vasil mới 22 tuổi. Vanga rất lo lắng khi biết được quyết định của em trai, cô vừa khóc vừa cầu xin em ở lại Petrich. Cô nói với em: “Đừng đi, em sẽ bị giết năm 23 tuổi!”. Nhưng Vasil vẫn giữ nguyên quyết định của mình và nói rằng không tin như vậy. Ngày hôm đó, cùng với Lubka, họ lên đường tới Strumitsa, tìm gặp Tome, và hôm sau, cả ba anh em trở thành du kích.
         Vasil trở thành đội trưởng đội công binh. Ngày 8 tháng 10 năm 1944, anh nhận nhiệm vụ phá chiếc cầu ở làng Furka, nơi các đơn vị quân đội Đức thường rút lui qua cầu này. Vasil hoàn thành nhiệm vụ nhưng vô ý đánh rơi chứng minh thư. Sau khi phá cầu, anh trốn tại nhà một người bạn trong làng, định đêm đến sẽ trở về đơn vị. Khi lục soát các mảnh vỡ của cây cầu, bọn lính Đức tìm thấy chứng minh thư của Vasil. Một người nông dân nào đó bị bắt cách chiếc cầu không xa khai rằng đã nhìn thấy chàng trai này ở trong làng.
         Bọn Đức đã bắt tất cả dân làng và dồn vào nhà thờ.  Cùng với những người khác Vasil cũng bị tóm. Chúng tuyên bố rằng nếu trước 1 giờ dân làng không khai báo người du kích thì sẽ đốt nhà thờ cùng với mọi người. Nhiều người ở đây biết mặt Vasil, biết rằng chính anh là người đã đánh bom chiếc cầu, nhưng im lặng. Hiểu rằng anh không thể bắt tất cả dân làng hy sinh tính mạng của họ, Vaisil bước ra khỏi đám đông và nói: “Chính tôi đã làm điều đó!”. Bọn Đức lôi anh ra sân nhà thờ, đuổi mọi người ra khỏi nhà thờ, và trước mặt tất cả mọi người, chúng tra tấn, đánh đập anh, sau đó bắn chết;
          Sự kiện bi thảm này diễn ra ngày 8 tháng 10, đúng vào ngày Vasil tròn 23 tuổi.
         Cuộc chiến tranh kết thúc, mang lại nhiều đau thương, mất mát cho mọi người. Cuộc sống dần dần trở lại ổn định. Hai năm liền, Dimitr bận rộn công việc làm nhà, cuối cùng anh đã xây xong ngôi nhà vừa chắc chắn vừa đẹp. Anh bỏ ra nhiều sức lực để xây nhà, sức khỏe vốn yếu ớt của anh ngày càng trở nên tồi tệ, anh thường xuyên bị đau mạnh ở vùng dạ dày. Một người bạn thân khuyên anh  hàng ngày uống một cốc rượu rakia. Ít lâu sau, Dimitr bị nghiện rượu và tính tình thay đổi: anh trở nên cau có và hay bực tức, suốt ngày đóng cửa lại ngồi một mình trong phòng, không thích trò chuyện với ai, và thường xuyên uống rượu. 
          Rõ ràng, anh mang một nỗi buồn nào đó trong lòng nhưng không muốn thổ lộ cùng ai. Anh không nghe lời khuyên của các bác sĩ lẫn của vợ cầu xin anh thay đổi lối sống. Vanga đi dạo quanh nhà vật vờ như một cái bóng, âm thầm chịu đựng nỗi đau khổ và lo âu, và đêm nào cô cũng khóc. Về sau cô nói với em gái rằng chính lúc bấy giờ cô đã biết chồng sẽ không qua khỏi nhưng không nói với ai và cầu nguyện Thượng đế ban điều kỳ diệu.
         Trong khi đó đoàn người vẫn tìm đến Vanga nhờ giúp đỡ, họ tụ tập trước cổng ngôi nhà, cô lắng nghe họ, khuyên bảo, chữa bệnh, và thậm chí không ai nghĩ rằng trong chính ngôi nhà bà đang xẩy ra điều bất hạnh.  
         Suốt 12 năm trời Dimitr “điều trị” như vậy, cho tới khi nằm liệt giường. Cuối cùng, anh vào bệnh viện và bị chẩn đoán là xơ gan, người đã bắt đầu bị phù.
        Vanga rơi vào tuyệt vọng, cô muốn ở bên chồng và gần một tuần ngồi bên giường bệnh.
         Một lần, bác sĩ điều trị nói với nữ y tá rằng muốn thông báo điều gì đó với Vanga. Nhưng cô trả lời rằng không cần thiết làm điều đó, vì cô biết chồng sắp chết và đề nghị cho anh về nhà. Ở nhà dường như anh cảm thấy dễ chịu hơn, và anh ngủ được. Vanga nằm ngủ trên sàn nhà, dưới chân anh. Suốt 6 tháng liền chồng bị bạo bệnh, cô không một phút rời xa anh, dường như muốn truyền cho anh một phần sức lực và ý chí của mình. Mà cũng có thể cô muốn chia tay như vậy với người chồng đã chung chăn gối hai chục năm trời.
          Không ai trong gia đình muốn nhắc lại những ngày nặng nề này, còn em gái Lubka đã viết về những giây phút cuối cùng như sau:
          “Khi Dimitr hấp hối, Vanga quỳ bên giường bệnh, và từ đôi mắt mù lòa của chị nước mắt không ngừng chảy, chị thì thầm điều gì đó. Hoặc là cầu nguyện Đấng Tối cao phù hộ cho anh, hoặc là chia tay với chồng.
         Ngày 1 tháng 4 năm 1962, Dimitr trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 42. Và khi bí mật vĩ đại của cái chết đã được phát lộ, Vanga không khóc nữa và ngủ thiếp. Chúng tôi đã làm tất cả những gì cần thiết. Mọi người bắt đầu đến, nhưng chị ấy vẫn ngủ. Chị ngủ cho tới lúc làm lễ mai táng. Sau đấy chị nói: “Chị tiễn anh ấy tới nơi anh ấy phải đến”.
         Hôm sau, tôi ra khỏi nhà và nói với mọi người tập trung ở cửa nhà chúng tôi rằng chồng Vanga vừa mất hôm qua nên không thể tiếp khách. Nhưng chị phản đối: “Hãy gọi mọi người trở lại. Chị sẽ tiếp tất cả mọi người. Họ cần chị”.

         Lubka ghi lại hình ảnh Vanga như sau: “Chị luôn luôn choàng chiếc khăn góa phụ màu đen. Gương mặt nhợt nhạt và cứng đờ, toàn bộ bản thể dường như hướng vào nội tâm, cách biệt với tất cả những gì xung quanh… Và dòng người vẫn đến, ngày một đông, họ đến từ khắp nơi trên trái đất với những khó khăn của mình: từ các nhà khoa học đến những người ít học, từ những kẻ hoài nghi đến người mộ đạo, từ người ốm đau đến người khỏe mạnh… Và chị không từ chối một ai”.
Read full post »

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

1 comments

TÀI NĂNG PHÁT LỘ
          Ở Strumitsa người ta thường nói nhiều về khả năng xẩy ra chiến tranh. Những người hàng xóm lo lắng thường đến gặp Vanga. Họ trò chuyện tới tận đêm khuya, phá tan bầu không khí yên tĩnh của đường phố.
         Trong số những giọng nói khác nhau nghe rõ giọng của Vanga, cô thường kể một cách tường tận về giấc mơ của mình, trong đó cô nhìn thấy những sự kiện sắp xẩy ra. Vanga  tự tin dự báo rằng chiến tranh sẽ nổ ra sau một năm nữa. Và để bảo vệ thành phố khỏi bị phá hoại, cô nói, cần dâng vật hiến tế lên bàn thờ nhà thờ Mười lăm vị Thánh Tử vì đạo.
         Những người hàng xóm cho rằng đơn giản là Vanga phao tin đồn nhảm làm mọi người hoang mang. Cũng có thể có ai đó tin cô, nhưng liệu họ có thể thay đổi được gì trong những sự kiện bi thảm đang đến gần?
         Năm 1940 trôi qua trong nỗi lo âu và hoài nghi như vậy. Còn vào đầu năm 1941, một lần vào ban đêm, Lubka nhìn thấy chị gái hốt hoảng đến mức không kìm được sự run rẩy. Vanga hỏi:  
         - Lubka, em có nhìn thấy một người cưỡi ngựa vừa đi khỏi đây không?
         - Người cưỡi ngựa nào nhỉ? – em gái hỏi. -  Chị có biết bây giờ là mấy giờ rồi không? Có lẽ chị mơ ngủ đấy.
         - Chị không biết, có thể chị mơ ngủ, nhưng đó là một giấc mơ rất kỳ lạ. Chị kể cho em nghe nhé…
        …Chàng ta cao lớn, có mái tóc màu hạt dẻ và đẹp trai một cách thánh thiện. Như một chiến binh cổ đại, chàng khoác bộ áo giáp lấp lánh dưới ánh trăng. Con ngựa quất cái đuôi trắng vào hai bên hông và gõ móng xuống đất. Dừng lại bên cổng nhà chúng ta, chàng xuống ngựa và bước vào phòng. Ánh hào quang từ chàng tỏa ra khiến căn phòng sáng lên như ban ngày. Chàng quay về phía chị và cất tiếng: “Chẳng bao lâu nữa, mọi thứ trên thế giới sẽ đảo lộn và nhiều người sẽ mất dấu vết. Em sẽ ngồi ở đây và nói về những người sống và những người chết. Đừng sợ hãi. Anh sẽ ở bên em, sẽ giúp em dự báo cho mọi người!”
         Nỗi lo lắng của Vanga chuyển sang Lubka, và cho tới sáng cô không hề chợp mắt.
         Đúng như Vanga đã dự báo một năm trước, ngày 6 tháng 4 năm 1941, quân đội Đức tràn qua biên giới Nam Tư.
         Nhận được hung tin, dân chúng Strumitsa rời bỏ những ngôi nhà của mình và, không dám liều mạng, họ trốn vào rừng, chui xuống hầm hay kho chứa.
         Chỉ riêng Vanga và Lubka vẫn ở lại ngôi nhà của mình.
         Vừa sáng sớm tinh mơ, tiếng gầm rú của động cơ ô tô hạng nặng đã phá tan bầu không khí ban mai yên  tĩnh. Thậm chí các cánh cửa kính cũng rung lên bởi sự chấn động của mặt đất. Còn đến trưa hai chị em đã nghe thấy những giọng nói xa lạ bằng tiếng nước ngoài và tiếng gót giày gõ cồm cộp. Những vị khách không mời này lùng sục khắp các ngôi nhà để tìm kiếm thức ăn. Trong những ngôi nhà bị dân chúng bỏ lại, chúng bắt hết gia súc, gà, vịt, lấy trứng…
        Mặc dù hai chị em đã chuẩn bị tinh thần chờ đợi chuyến “viếng thăm”, nhưng họ vô cùng sợ hãi khi cánh cửa đột ngột mở ra và trên bậu cửa xuất hiện một tên lính Đức. Hắn ta nhìn ngôi nhà nghèo nàn và hiểu rằng chẳng thể kiếm gì được ở đây, nên vội vàng bỏ đi.
         Vài ngày sau, những người hàng xóm trở về. Họ có phần yên tâm khi nhìn thấy những ngôi nhà của họ không bị hề hấn gì, ngoài số gia súc bị bắt, tất cả vẫn nguyên vẹn. Nhiều người đến nhà Vanga hỏi thăm tình hình hai chị em.
        Những người đến sớm, đứng đối chân bên cánh cửa, không dám bước vào. Những người đến muộn hơn đứng tụ tập ngoài sân.
        Có một sự thay đổi bất thường diễn ra với Vanga. Sau mấy tiếng đồng hồ cô thay đổi đến mức không ai nhận ra.
        Đây là hình ảnh cô hiện diện trước mặt những người hàng xóm: “Vanga ngồi trong góc căn phòng nhỏ, dưới một ngọn đèn thờ và nói bằng cái giọng oang oang, mạnh mẽ, dứt khoát. Cô rất gầy và tỏ ra hưng phấn. Chiếc áo dài rộng, bạc màu, nhiều miếng vá không che được sự căng thẳng của thân thể cô. Đôi mắt mù lòa của cô trông như hai cái hốc, nhưng gương mặt cô hoàn toàn thay đổi, trở nên phấn khích đến mức tưởng như tỏa sáng. Và cô cứ thế nói mãi. Từ miệng cô phát ra một giọng nói nêu chính xác những địa điểm và sự kiện, tên tuổi những người đàn ông được động viên vào quân đội, những người sẽ sống sót trở về, và những người gặp điều bất hạnh…Hiện tượng này diễn ra nhiều ngày, và cô gần như không ngủ suốt cả năm. Nhìn bộ dạng Vanga, mọi người muốn quỳ trước cô. Những người đàn ông mà cô nói sẽ trở về, đã trở về đúng thời điểm dự báo.
        Tin đồn về tài năng kỳ diệu của Vanga lan nhanh khắp cả thành phố, và từng đoàn người lũ lượt kéo đến gặp cô, họ ngồi chật cả sân.
        Đúng lúc đó, vợ người hàng xóm của họ là Milana Partenova đang ngồi ngoài sân bỗng khóc nức nở. Đã lâu bà không nhận được tìn tức gì của chồng và cho rằng bốn đứa con của bà đã trở thành trẻ mồ côi.
         Vanga nhìn bà ta và nói: “Đừng khóc, hãy nhanh chân chạy về nhà chuẩn bị bữa tối, vì ông Milan của bà chiều nay sẽ trở về, chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi. Tôi nhìn thấy ông ta. Hiện ông đang trốn trong một cái mương cách thành phố không xa”.
           Bà hàng xóm nghĩ rằng Vanga muốn an ủi, động viên bà, nhưng vẫn hy vọng và vội vàng chạy về nhà. Bà nấu  bữa tối, chuẩn bị quần áo cho chồng và ngồi chờ. Thế nhưng, vào khoảng nửa đêm, mệt mỏi vì chờ đợi và lo lắng, bà ngủ thiếp đi.
         Nhưng một tiếng gõ nhẹ vào cửa sổ đã đánh thức bà dậy và bà nhìn ra ngoài sân. Ở đấy, ông Milan của bà đang đứng, đúng là chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi.  Quá kinh ngạc, bà suýt ngất xỉu.
         Còn ông Milan cũng thừ người ra, không thể hiểu được vì sao bà vợ biết ông sẽ trở về. Ông trốn khỏi nhà tù và lén lút chui lủi khắp nơi, mãi mới về đến nhà. Ông nói đi nói lại mãi: “Không ai có thể biết điều này, bản thân tôi cũng không biết có quyết định về nhà không. Sợ bị phục kích”.
         Còn một dự đoán nữa của Vanga khiến mọi người tin rằng những gì cô nói sẽ thành hiện thực.
         Mẹ của Cristo Pyrchanov và cô vợ chưa cưới Pavlina cũng lo lắng về số phận của anh. Ngay từ đầu chiến tranh, Vanga đã nói với bà hàng xóm rằng con trai bà vẫn sống, nhưng còn lâu anh mới trở về. Pavlina không tin lời dự đoán vu vơ như vậy nên đã lấy người khác.
        Một năm sau, khi Cristo khỏe mạnh và lành lặn vượt qua bãi chợ, trở về nhà, người đầu tiên gặp anh là cô người yêu cũ. Quá bất ngờ, cô suýt ngất. Lũ trẻ con vội vã chạy đi loan báo với mẹ của Cristo rằng con trai bà đã trở về.
         Tin đồn về tài năng tiên tri của Vanga nhanh chóng lan khắp thành phố và các làng lân cận không chỉ gây ra các cuộc tranh luận mà còn những cuộc hành hương của mọi người đến nhà Vanga. Ai cũng muốn biết chút gì đó về số phận những người thân của mình. Vanga không từ chối ai cả. Và một thời gian sau, những lời tiên tri của cô đã trở thành hiện thực.
        Vanga còn là một thầy thuốc giỏi chữa khỏi các loại bệnh khác nhau, hơn nữa cô chữa bệnh bằng các loại cỏ. Điều thú vị là các bác sĩ giàu kinh nghiệm cũng ngạc nhiên về những kiến thức của cô, bởi cô đã sử dụng những loại cỏ thông thường mà theo họ không có tính chất chữa bệnh. Nhưng dù sao các loại thuốc của cô có tác dụng rất nhanh và hiệu quả.
         Về sau tài năng của Vanga càng ngày càng phát triển, trở nên đa dạng, phong phú. Cô dự đoán tương lai cho mọi người, kể cả những người thân, nhưng không sa vào những chi tiết cụ thể, cô giúp đỡ những người bệnh, cho họ những lời khuyên khác nhau.

        Một số người sợ những lời tiên tri của cô, buộc tội cô làm trò phù thủy. Số khác mê mẩn cô, tin tưởng cô tuyệt đối. Huyền thoại về Vanga đã ra đời như vậy.
(Còn tiếp)
Read full post »
 

Google+ Followers

© 2012 TRẦN ĐÌNH HẬU . Designed by Nitin Maheta, Powered by Blogger