Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

0 comments
LẤY CHỒNG
          Năm 1942, biên giới Nam Tư-Bulgaria được thiết lập, dòng người từ Petrich, các làng lân cận và các địa phương khác xa hơn bắt đầu tìm đến Vanga.
         Ai cũng muốn biết điều gì đang chờ đợi mình và các thành viên gia đình trong tương lai. Nhiều con bệnh cũng đến gặp Vanga với hy vọng được chữa khỏi bệnh.
         Một lần, có mấy người lính thuộc trung đoàn quân nhu 14, quân đội Bulgaria, đến gặp Vanga. Trong số họ có một người tỏ ra rất lo lắng điều gì đó và muốn trao đổi trực tiếp với riêng cô. Đó là anh Dimitr Gushterov từ làng Kryndjilitsa thuộc vùng Petrich.
         Anh trai anh ta bị những tên ác ôn ăn cắp rồi giết chết, để lại ba đứa con mồ côi và bà vợ góa đang bị bệnh lao.
         Dimitr bối rối đi lại trong sân, không dám vào nhà. Bỗng nhiên cánh cửa mở ra và trên ngưỡng cửa xuất hiện Vanga, cô gọi tên anh ta và nói:
         “Tôi biết anh đến đây vì việc gì. Anh muốn tôi cho anh biết kẻ nào đã giết anh trai của anh. Có thể, sau này tôi sẽ nói, nhưng anh phải hứa với tôi là không trả thù họ, vì không cần thiết làm điều đó. Anh sẽ sống đến ngày tận mắt nhìn thấy bọn chúng sẽ kết thúc thảm hại”.
           Những lời Vanga nói khiến Dimitr Gushterov kinh ngạc đến mức chân anh tưởng như khụyu xuống khi bước ra khỏi nhà. Anh không thể nào cắt nghĩa nổi vì sao cô biết được tên anh, đoán biết được những điều anh ấp ủ trong lòng. 
         Về sau anh còn mấy lần nữa đến gặp cô gái kỳ diệu này để giãi bày tâm sự và nhờ cô giúp đỡ. Họ trò chuyện với nhau rất lâu trong căn phòng nhỏ của cô.
         Ngày 20 tháng 4, Vanga nói với em gái rằng Dimitr ngỏ lời cầu hôn cô và sẽ đưa hai chị em về sống ở Petrich.
          Dạo ấy mấy người em trai không ở nhà, Vasil đi lính ở Dupnitsa, còn Tome đi làm ăn ở tận bên Đức.
          Ngày 22 tháng 4, một cỗ xe dừng lại trước nhà Vanga. Từ trong xe, Dimitr ăn mặc đẹp, hồi hộp bước ra. Sàn xe được trải cỏ thơm và hoa, còn phía trên đặt một tấm thảm màu sặc sỡ để hai chị em thoải mái lúc đi đường.
         Tin Vanga lên xe hoa nhanh chóng lan khắp vùng, những người hàng xóm và quen biết kéo đến để chia tay với cô. Một số người thậm chí còn trách cô bỏ quê hương ra đi.
         Vanga không để ý tới lời họ nói, vì cô chia tay không chỉ với quê hương mà cả những hồi ức nặng nề, sự nghèo khổ và số phận buồn thảm của một đứa trẻ mồ côi. Hai chị em hy vọng rằng cùng với việc thay đổi chỗ ở, cuộc sống của họ cũng sẽ tốt đẹp hơn.
          Của hồi môn của cô dâu chỉ mang tính tượng trưng. Vanga choàng tấm khăn len đỏ do cô tự đan, mang theo cái nồi đồng nhỏ và cái bình toong – toàn bộ hành lý chỉ có vậy.  
         Họ treo chiếc khóa sắt gỉ lên cánh cửa và lên đường, cỗ xe lăn bánh trên con đường gồ ghề dẫn tới Petrich. Họ lặng lẽ ra đi, lòng thầm nhớ Strumitsa và nghĩ về tương lai.
          Họ đến Petrich vào buổi chiều ngày hôm đó. Cỗ xe dừng lại trước một ngôi nhà thấp lè tè, dưới con số 10 trên phố Dân binh. Dimitr đưa tay cho vợ chưa cưới, giúp cô xuống xe.
          Những kẻ tò mò không giấu nổi sự thích thú khi quan sát người hàng xóm tương lai của họ từ cửa sổ căn phòng của mình. Gương mặt thanh tú, nhợt nhạt ẩn trong mái tóc màu hạt dẻ toát lên sự bình thản và cương nghị. Với vóc người nhỏ nhắn, mảnh mai, trong tấm áo dài sờn cũ nhưng sạch sẽ, Vanga tự tin bước xuống xe, không hề để ý tới những kẻ ngồi lê mách lẻo cho rằng một cô gái như vậy trong nhà chỉ là của nợ cho gia đình.
         Sự tò mò của những người hàng xóm được nhân lên bởi một yếu tố khác, hết sức cơ bản. Ở đây không chỉ nói về một cô gái bình thường, không có gì đặc biệt, ngoài sự mù lòa mà về nhà tiên tri Vanga, về tài năng khác thường của cô – khả năng dự báo tương lai và giúp đỡ mọi người giải quyết những khó khăn trong cuộc sống, chữa trị các loại bệnh khác nhau, điều mà họ đã được nghe và biết ở cái thị trấn vùng biên này. Vì vậy, sự tò mò hoàn toàn có thể lý giải được.
         Lubka chăm chú quan sát nơi ở mới của họ. Ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo, mái nhà dường như sẵn sàng đổ sụp xuống bất cứ lúc nào.
        Trước nhà là một khoảng sân trống không bị bỏ hoang. Họ bước vào một hành lang tối, dài và bẩn thỉu. Hai căn phòng nhỏ được bố trí hai bên dãy hành lang. Một phòng về sau trở thành phòng ngủ của đôi vợ chồng mới cưới, còn phòng kia là nơi Vanga tiếp khách.
         Về sau họ xây thêm một căn phòng nữa dành cho bà mẹ 70 tuổi của Dimitr, ba đứa con của người anh bị giết và hai đứa con của một người anh khác. Tất cả họ đều ngủ trên tấm phản gỗ, không có đệm. Tá túc trong một xó của ngôi nhà là bà vợ góa của anh trai bị bệnh lao.  Nhìn đâu cũng thấy sự bẩn thỉu và nghèo khổ.
          Vanga đánh đổi cuộc sống nghèo khổ, đầy mất mát của mình lấy một cuộc sống không kém phần nghèo khổ và khó khăn.
         Ngày 10 tháng 5 năm 1942, Vanga kết hôn với anh Dimitr Gushterov 23 tuổi và trở thành bà nội trợ trong ngôi nhà của mình. Bắt đầu một cuộc sống không dễ dàng.
          Bà mẹ chồng thậm chí không muốn giấu diếm sự bất bình về lựa chọn của con trai. Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên với nàng dâu, bà đã nói thẳng: “Ôi, con trai, lẽ nào đó là số phận của con?”
         Có lẽ, bà hy vọng con trai sẽ mang về nhà một cô gái nông dân khỏe mạnh. Bởi vì cần phải làm ruộng và chăm lo cho gia đình của người con cả với người vợ đang sắp chết, 5 đứa trẻ mồ côi, đã thế lại còn thêm cả Lubka.
          Vanga lặng lẽ nuốt vào lòng sự tủi nhục và chẳng bao lâu cô đã chứng minh được khả năng của mình. Vanga không sợ những lời đàm tiếu lẫn sự nghèo khổ, vì cô không những có cá tính mạnh mẽ mà còn nhiều kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh sinh tồn tích lũy được hầu như từ khi mới lọt lòng.
          Từ sáng đến tối, Vanga cùng Lubka không biết mệt mỏi giặt giũ, quét dọn, lau chùi, sửa chữa, sơn phết, và chẳng bao lâu ngôi nhà của họ trở nên sáng choang.
          Họ cũng thực hiện một số sửa đổi ngoài sân. Vanga cấm những người ở các làng lân cận bán hàng trong sân nhà mình.
        Cuộc sống đi vào nền nếp và không khác gì cuộc sống của những gia đình khác trong thời chiến. Nhưng điều đó diễn ra không lâu. Ít lâu sau, mọi người biết rằng ở Petrich xuất hiện một nhà tiên tri. Thông tin đó lan đi rất nhanh. Những đoàn người lại đổ về ngôi nhà của Gushterov trên phố Dân binh.
          Người chồng không thích điều đó. Dimitr cho rằng người phụ nữ có chồng chỉ nên lo toan công việc gia đình. Anh rất tôn trọng Vanga và  tài năng của chị, nhưng trong chừng mực nào đó, điều đó làm tổn thương lòng tự trọng của anh, vì anh cho rằng mình đủ khả năng bảo đảm cuộc sống gia đình.
          Vanga cũng rất yêu quý và tôn trọng chồng như một con người và một người chồng, nhưng cô cho rằng thiên chức của cô là phục vụ con người. Hơn nữa, tài năng của cô không để cô yên, đòi hỏi cô thường xuyên tự thể hiện.
         Trong những năm chiến tranh, ở vùng này có nhiều người tham gia du kích, họ trốn trong rừng, chiến đấu chống bọn phát xít. Người thân của họ thường đến gặp Vanga để hy vọng tìm hiểu điều gì đó về họ.
         Những cuộc viếng thăm như vậy không còn bí mật đối với cảnh sát. Đại diện của “trật tự mới”, Dimitr Sugurov và Boris Lazarov hầu như ngày nào cũng ghé qua nhà Vanga, dọa dẫm cô, yêu cầu cô kể về những điều cô nói với người thân của “kẻ thù chế độ mới”. Nhưng Vanga im lặng.
          Trong thời gian đó, bắt đầu một đợt động viên quân sự. Dimitr cũng nhập ngũ, anh được điều tới phục vụ tại một đơn vị ở Hy Lạp. Lúc chia tay, anh hứa với Vanga rằng nếu sống sót trở về anh sẽ xây cho cô một căn nhà mới đẹp tuyệt vời để ở đó cô quên đi những nỗi bất hạnh của mình.
          Còn Vanga chỉ khuyên chồng: “Hãy tránh xa nước”.
          Mùa xuân năm 1944, chồng Vanga trở về từ Hy Lạp, người anh gầy chỉ còn da bọc xương. Dimitr yếu đến mức không đủ sức làm được việc gì.
          Phải sang năm sau, sức khỏe của Dimitr mới dần dần hồi phục và anh có thể bắt tay vào xây ngôi nhà mới như đã hứa với Vanga. Anh có đôi tay khéo léo và tài năng thợ xây, mặc dù không được học ngành này bao giờ. Dimitr tự làm lấy mọi việc, trừ những việc nặng nhọc.
         Đồng thời, thông tin về Vanga ngày càng lan rộng. Ngày càng có nhiều người đến gặp cô xin giúp đỡ. Cô thức dậy khi còn chưa rõ mặt người, chuẩn bị bữa ăn cho cả gia đình, nhào bột làm bánh mỳ, sau đó tiếp khách, giúp đỡ họ tìm lại hy vọng và niềm tin.
          Năm 1944, hai anh em Tome và Vasil trở về nhà. Sau một thời gian sống ở Đức, Tome về định cư ở Strumitsa. Anh trai Vasil từng đóng quân ở làng Lahana tận Hy Lạp, bất ngờ xuất hiện ở Petrich.
          Anh nói với Vanga rằng sẽ trở về Strumitsa và tham gia du kích.Thời gian này ở vùng Strumitsa, người ta thành lập lữ đoàn du kích Makedonia với sự tham gia của rất nhiều thanh niên để chiến đấu chống bọn phát xít Đức. Vasil và Lubka quyết định ra đi mà không nói gì với Vanga.
          Vasil mới 22 tuổi. Vanga rất lo lắng khi biết được quyết định của em trai, cô vừa khóc vừa cầu xin em ở lại Petrich. Cô nói với em: “Đừng đi, em sẽ bị giết năm 23 tuổi!”. Nhưng Vasil vẫn giữ nguyên quyết định của mình và nói rằng không tin như vậy. Ngày hôm đó, cùng với Lubka, họ lên đường tới Strumitsa, tìm gặp Tome, và hôm sau, cả ba anh em trở thành du kích.
         Vasil trở thành đội trưởng đội công binh. Ngày 8 tháng 10 năm 1944, anh nhận nhiệm vụ phá chiếc cầu ở làng Furka, nơi các đơn vị quân đội Đức thường rút lui qua cầu này. Vasil hoàn thành nhiệm vụ nhưng vô ý đánh rơi chứng minh thư. Sau khi phá cầu, anh trốn tại nhà một người bạn trong làng, định đêm đến sẽ trở về đơn vị. Khi lục soát các mảnh vỡ của cây cầu, bọn lính Đức tìm thấy chứng minh thư của Vasil. Một người nông dân nào đó bị bắt cách chiếc cầu không xa khai rằng đã nhìn thấy chàng trai này ở trong làng.
         Bọn Đức đã bắt tất cả dân làng và dồn vào nhà thờ.  Cùng với những người khác Vasil cũng bị tóm. Chúng tuyên bố rằng nếu trước 1 giờ dân làng không khai báo người du kích thì sẽ đốt nhà thờ cùng với mọi người. Nhiều người ở đây biết mặt Vasil, biết rằng chính anh là người đã đánh bom chiếc cầu, nhưng im lặng. Hiểu rằng anh không thể bắt tất cả dân làng hy sinh tính mạng của họ, Vaisil bước ra khỏi đám đông và nói: “Chính tôi đã làm điều đó!”. Bọn Đức lôi anh ra sân nhà thờ, đuổi mọi người ra khỏi nhà thờ, và trước mặt tất cả mọi người, chúng tra tấn, đánh đập anh, sau đó bắn chết;
          Sự kiện bi thảm này diễn ra ngày 8 tháng 10, đúng vào ngày Vasil tròn 23 tuổi.
         Cuộc chiến tranh kết thúc, mang lại nhiều đau thương, mất mát cho mọi người. Cuộc sống dần dần trở lại ổn định. Hai năm liền, Dimitr bận rộn công việc làm nhà, cuối cùng anh đã xây xong ngôi nhà vừa chắc chắn vừa đẹp. Anh bỏ ra nhiều sức lực để xây nhà, sức khỏe vốn yếu ớt của anh ngày càng trở nên tồi tệ, anh thường xuyên bị đau mạnh ở vùng dạ dày. Một người bạn thân khuyên anh  hàng ngày uống một cốc rượu rakia. Ít lâu sau, Dimitr bị nghiện rượu và tính tình thay đổi: anh trở nên cau có và hay bực tức, suốt ngày đóng cửa lại ngồi một mình trong phòng, không thích trò chuyện với ai, và thường xuyên uống rượu. 
          Rõ ràng, anh mang một nỗi buồn nào đó trong lòng nhưng không muốn thổ lộ cùng ai. Anh không nghe lời khuyên của các bác sĩ lẫn của vợ cầu xin anh thay đổi lối sống. Vanga đi dạo quanh nhà vật vờ như một cái bóng, âm thầm chịu đựng nỗi đau khổ và lo âu, và đêm nào cô cũng khóc. Về sau cô nói với em gái rằng chính lúc bấy giờ cô đã biết chồng sẽ không qua khỏi nhưng không nói với ai và cầu nguyện Thượng đế ban điều kỳ diệu.
         Trong khi đó đoàn người vẫn tìm đến Vanga nhờ giúp đỡ, họ tụ tập trước cổng ngôi nhà, cô lắng nghe họ, khuyên bảo, chữa bệnh, và thậm chí không ai nghĩ rằng trong chính ngôi nhà bà đang xẩy ra điều bất hạnh.  
         Suốt 12 năm trời Dimitr “điều trị” như vậy, cho tới khi nằm liệt giường. Cuối cùng, anh vào bệnh viện và bị chẩn đoán là xơ gan, người đã bắt đầu bị phù.
        Vanga rơi vào tuyệt vọng, cô muốn ở bên chồng và gần một tuần ngồi bên giường bệnh.
         Một lần, bác sĩ điều trị nói với nữ y tá rằng muốn thông báo điều gì đó với Vanga. Nhưng cô trả lời rằng không cần thiết làm điều đó, vì cô biết chồng sắp chết và đề nghị cho anh về nhà. Ở nhà dường như anh cảm thấy dễ chịu hơn, và anh ngủ được. Vanga nằm ngủ trên sàn nhà, dưới chân anh. Suốt 6 tháng liền chồng bị bạo bệnh, cô không một phút rời xa anh, dường như muốn truyền cho anh một phần sức lực và ý chí của mình. Mà cũng có thể cô muốn chia tay như vậy với người chồng đã chung chăn gối hai chục năm trời.
          Không ai trong gia đình muốn nhắc lại những ngày nặng nề này, còn em gái Lubka đã viết về những giây phút cuối cùng như sau:
          “Khi Dimitr hấp hối, Vanga quỳ bên giường bệnh, và từ đôi mắt mù lòa của chị nước mắt không ngừng chảy, chị thì thầm điều gì đó. Hoặc là cầu nguyện Đấng Tối cao phù hộ cho anh, hoặc là chia tay với chồng.
         Ngày 1 tháng 4 năm 1962, Dimitr trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 42. Và khi bí mật vĩ đại của cái chết đã được phát lộ, Vanga không khóc nữa và ngủ thiếp. Chúng tôi đã làm tất cả những gì cần thiết. Mọi người bắt đầu đến, nhưng chị ấy vẫn ngủ. Chị ngủ cho tới lúc làm lễ mai táng. Sau đấy chị nói: “Chị tiễn anh ấy tới nơi anh ấy phải đến”.
         Hôm sau, tôi ra khỏi nhà và nói với mọi người tập trung ở cửa nhà chúng tôi rằng chồng Vanga vừa mất hôm qua nên không thể tiếp khách. Nhưng chị phản đối: “Hãy gọi mọi người trở lại. Chị sẽ tiếp tất cả mọi người. Họ cần chị”.

         Lubka ghi lại hình ảnh Vanga như sau: “Chị luôn luôn choàng chiếc khăn góa phụ màu đen. Gương mặt nhợt nhạt và cứng đờ, toàn bộ bản thể dường như hướng vào nội tâm, cách biệt với tất cả những gì xung quanh… Và dòng người vẫn đến, ngày một đông, họ đến từ khắp nơi trên trái đất với những khó khăn của mình: từ các nhà khoa học đến những người ít học, từ những kẻ hoài nghi đến người mộ đạo, từ người ốm đau đến người khỏe mạnh… Và chị không từ chối một ai”.
Read full post »

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

1 comments

TÀI NĂNG PHÁT LỘ
          Ở Strumitsa người ta thường nói nhiều về khả năng xẩy ra chiến tranh. Những người hàng xóm lo lắng thường đến gặp Vanga. Họ trò chuyện tới tận đêm khuya, phá tan bầu không khí yên tĩnh của đường phố.
         Trong số những giọng nói khác nhau nghe rõ giọng của Vanga, cô thường kể một cách tường tận về giấc mơ của mình, trong đó cô nhìn thấy những sự kiện sắp xẩy ra. Vanga  tự tin dự báo rằng chiến tranh sẽ nổ ra sau một năm nữa. Và để bảo vệ thành phố khỏi bị phá hoại, cô nói, cần dâng vật hiến tế lên bàn thờ nhà thờ Mười lăm vị Thánh Tử vì đạo.
         Những người hàng xóm cho rằng đơn giản là Vanga phao tin đồn nhảm làm mọi người hoang mang. Cũng có thể có ai đó tin cô, nhưng liệu họ có thể thay đổi được gì trong những sự kiện bi thảm đang đến gần?
         Năm 1940 trôi qua trong nỗi lo âu và hoài nghi như vậy. Còn vào đầu năm 1941, một lần vào ban đêm, Lubka nhìn thấy chị gái hốt hoảng đến mức không kìm được sự run rẩy. Vanga hỏi:  
         - Lubka, em có nhìn thấy một người cưỡi ngựa vừa đi khỏi đây không?
         - Người cưỡi ngựa nào nhỉ? – em gái hỏi. -  Chị có biết bây giờ là mấy giờ rồi không? Có lẽ chị mơ ngủ đấy.
         - Chị không biết, có thể chị mơ ngủ, nhưng đó là một giấc mơ rất kỳ lạ. Chị kể cho em nghe nhé…
        …Chàng ta cao lớn, có mái tóc màu hạt dẻ và đẹp trai một cách thánh thiện. Như một chiến binh cổ đại, chàng khoác bộ áo giáp lấp lánh dưới ánh trăng. Con ngựa quất cái đuôi trắng vào hai bên hông và gõ móng xuống đất. Dừng lại bên cổng nhà chúng ta, chàng xuống ngựa và bước vào phòng. Ánh hào quang từ chàng tỏa ra khiến căn phòng sáng lên như ban ngày. Chàng quay về phía chị và cất tiếng: “Chẳng bao lâu nữa, mọi thứ trên thế giới sẽ đảo lộn và nhiều người sẽ mất dấu vết. Em sẽ ngồi ở đây và nói về những người sống và những người chết. Đừng sợ hãi. Anh sẽ ở bên em, sẽ giúp em dự báo cho mọi người!”
         Nỗi lo lắng của Vanga chuyển sang Lubka, và cho tới sáng cô không hề chợp mắt.
         Đúng như Vanga đã dự báo một năm trước, ngày 6 tháng 4 năm 1941, quân đội Đức tràn qua biên giới Nam Tư.
         Nhận được hung tin, dân chúng Strumitsa rời bỏ những ngôi nhà của mình và, không dám liều mạng, họ trốn vào rừng, chui xuống hầm hay kho chứa.
         Chỉ riêng Vanga và Lubka vẫn ở lại ngôi nhà của mình.
         Vừa sáng sớm tinh mơ, tiếng gầm rú của động cơ ô tô hạng nặng đã phá tan bầu không khí ban mai yên  tĩnh. Thậm chí các cánh cửa kính cũng rung lên bởi sự chấn động của mặt đất. Còn đến trưa hai chị em đã nghe thấy những giọng nói xa lạ bằng tiếng nước ngoài và tiếng gót giày gõ cồm cộp. Những vị khách không mời này lùng sục khắp các ngôi nhà để tìm kiếm thức ăn. Trong những ngôi nhà bị dân chúng bỏ lại, chúng bắt hết gia súc, gà, vịt, lấy trứng…
        Mặc dù hai chị em đã chuẩn bị tinh thần chờ đợi chuyến “viếng thăm”, nhưng họ vô cùng sợ hãi khi cánh cửa đột ngột mở ra và trên bậu cửa xuất hiện một tên lính Đức. Hắn ta nhìn ngôi nhà nghèo nàn và hiểu rằng chẳng thể kiếm gì được ở đây, nên vội vàng bỏ đi.
         Vài ngày sau, những người hàng xóm trở về. Họ có phần yên tâm khi nhìn thấy những ngôi nhà của họ không bị hề hấn gì, ngoài số gia súc bị bắt, tất cả vẫn nguyên vẹn. Nhiều người đến nhà Vanga hỏi thăm tình hình hai chị em.
        Những người đến sớm, đứng đối chân bên cánh cửa, không dám bước vào. Những người đến muộn hơn đứng tụ tập ngoài sân.
        Có một sự thay đổi bất thường diễn ra với Vanga. Sau mấy tiếng đồng hồ cô thay đổi đến mức không ai nhận ra.
        Đây là hình ảnh cô hiện diện trước mặt những người hàng xóm: “Vanga ngồi trong góc căn phòng nhỏ, dưới một ngọn đèn thờ và nói bằng cái giọng oang oang, mạnh mẽ, dứt khoát. Cô rất gầy và tỏ ra hưng phấn. Chiếc áo dài rộng, bạc màu, nhiều miếng vá không che được sự căng thẳng của thân thể cô. Đôi mắt mù lòa của cô trông như hai cái hốc, nhưng gương mặt cô hoàn toàn thay đổi, trở nên phấn khích đến mức tưởng như tỏa sáng. Và cô cứ thế nói mãi. Từ miệng cô phát ra một giọng nói nêu chính xác những địa điểm và sự kiện, tên tuổi những người đàn ông được động viên vào quân đội, những người sẽ sống sót trở về, và những người gặp điều bất hạnh…Hiện tượng này diễn ra nhiều ngày, và cô gần như không ngủ suốt cả năm. Nhìn bộ dạng Vanga, mọi người muốn quỳ trước cô. Những người đàn ông mà cô nói sẽ trở về, đã trở về đúng thời điểm dự báo.
        Tin đồn về tài năng kỳ diệu của Vanga lan nhanh khắp cả thành phố, và từng đoàn người lũ lượt kéo đến gặp cô, họ ngồi chật cả sân.
        Đúng lúc đó, vợ người hàng xóm của họ là Milana Partenova đang ngồi ngoài sân bỗng khóc nức nở. Đã lâu bà không nhận được tìn tức gì của chồng và cho rằng bốn đứa con của bà đã trở thành trẻ mồ côi.
         Vanga nhìn bà ta và nói: “Đừng khóc, hãy nhanh chân chạy về nhà chuẩn bị bữa tối, vì ông Milan của bà chiều nay sẽ trở về, chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi. Tôi nhìn thấy ông ta. Hiện ông đang trốn trong một cái mương cách thành phố không xa”.
           Bà hàng xóm nghĩ rằng Vanga muốn an ủi, động viên bà, nhưng vẫn hy vọng và vội vàng chạy về nhà. Bà nấu  bữa tối, chuẩn bị quần áo cho chồng và ngồi chờ. Thế nhưng, vào khoảng nửa đêm, mệt mỏi vì chờ đợi và lo lắng, bà ngủ thiếp đi.
         Nhưng một tiếng gõ nhẹ vào cửa sổ đã đánh thức bà dậy và bà nhìn ra ngoài sân. Ở đấy, ông Milan của bà đang đứng, đúng là chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi.  Quá kinh ngạc, bà suýt ngất xỉu.
         Còn ông Milan cũng thừ người ra, không thể hiểu được vì sao bà vợ biết ông sẽ trở về. Ông trốn khỏi nhà tù và lén lút chui lủi khắp nơi, mãi mới về đến nhà. Ông nói đi nói lại mãi: “Không ai có thể biết điều này, bản thân tôi cũng không biết có quyết định về nhà không. Sợ bị phục kích”.
         Còn một dự đoán nữa của Vanga khiến mọi người tin rằng những gì cô nói sẽ thành hiện thực.
         Mẹ của Cristo Pyrchanov và cô vợ chưa cưới Pavlina cũng lo lắng về số phận của anh. Ngay từ đầu chiến tranh, Vanga đã nói với bà hàng xóm rằng con trai bà vẫn sống, nhưng còn lâu anh mới trở về. Pavlina không tin lời dự đoán vu vơ như vậy nên đã lấy người khác.
        Một năm sau, khi Cristo khỏe mạnh và lành lặn vượt qua bãi chợ, trở về nhà, người đầu tiên gặp anh là cô người yêu cũ. Quá bất ngờ, cô suýt ngất. Lũ trẻ con vội vã chạy đi loan báo với mẹ của Cristo rằng con trai bà đã trở về.
         Tin đồn về tài năng tiên tri của Vanga nhanh chóng lan khắp thành phố và các làng lân cận không chỉ gây ra các cuộc tranh luận mà còn những cuộc hành hương của mọi người đến nhà Vanga. Ai cũng muốn biết chút gì đó về số phận những người thân của mình. Vanga không từ chối ai cả. Và một thời gian sau, những lời tiên tri của cô đã trở thành hiện thực.
        Vanga còn là một thầy thuốc giỏi chữa khỏi các loại bệnh khác nhau, hơn nữa cô chữa bệnh bằng các loại cỏ. Điều thú vị là các bác sĩ giàu kinh nghiệm cũng ngạc nhiên về những kiến thức của cô, bởi cô đã sử dụng những loại cỏ thông thường mà theo họ không có tính chất chữa bệnh. Nhưng dù sao các loại thuốc của cô có tác dụng rất nhanh và hiệu quả.
         Về sau tài năng của Vanga càng ngày càng phát triển, trở nên đa dạng, phong phú. Cô dự đoán tương lai cho mọi người, kể cả những người thân, nhưng không sa vào những chi tiết cụ thể, cô giúp đỡ những người bệnh, cho họ những lời khuyên khác nhau.

        Một số người sợ những lời tiên tri của cô, buộc tội cô làm trò phù thủy. Số khác mê mẩn cô, tin tưởng cô tuyệt đối. Huyền thoại về Vanga đã ra đời như vậy.
(Còn tiếp)
Read full post »

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2016

1 comments
GẶP NGƯỜI KỴ SĨ

Nhưng sức khỏe của Lubka phục hồi chậm chạp. Để lấy lại sức khỏe sau trận ốm, bác sĩ yêu cầu Lubka phải được chăm sóc tốt và ăn uống đầy đủ, đồng thời khuyên cô hàng ngày uống nửa lít sữa cừu tươi.
         Để kiếm sữa cho con gái, ông bố quyết định đi chăn bò thuê tại một trang trại ở làng Hamzali, nơi có nhiều sữa. Và Lubka quả thật khỏe ra trông thấy. Hàng ngày cô cùng Vanga đi lấy nước ở cái giếng nằm ngoài đồng, cách làng khá xa.
          Khi Lubka múc mước, Vanga ngồi trên phiến đá bên cạnh. Đôi khi cô ngồi im lặng rất lâu, bất động, không để ý tới bất cứ điều gì. Cô không nghe thấy gì và không phản ứng khi Lubka gọi: “Chị ơi, em múc nước đầy rồi, ta về thôi!” Một lần, Lubka thậm chí hốt hoảng: cô có cảm giác chị gái bất tỉnh và sắp chết.  Lặng người vì sợ hãi, cô đứng bên cạnh Vanga. Còn cô chị thì dường như đột ngột thoát khỏi cơn mê và nói: “Em đừng hãi, không có gì đáng sợ hết, đơn giản là chị vừa trò chuyện với một người. Anh ta là kỵ sĩ, anh ta dắt ngựa đến uống nước ở giếng. Chị bảo anh ta đừng trách em không nhường chỗ cho anh ta, vì em không nhìn thấy anh ta. Kỵ sĩ trả lời chị: “Anh không trách, anh có thể đợi. Còn em hãy nhổ những ngọn cỏ có những bông hoa  nhỏ màu trắng.  Đó là “cỏ ngôi sao”, nó có thể giúp chữa nhiều bệnh”.
          Lubka nhìn xung quanh một lượt và chỉ lúc đó cô mới để ý tới đám cỏ rậm rạp mọc cạnh giếng. Hoa của chúng, quả thật, trông giống như những ngôi sao, tỏa sáng trên những cọng nhỏ không có lá. Cho đến tận hôm đó, Lubka vẫn chưa biết loại cỏ này. Cô không bao giờ nhìn thấy loại cỏ giống như vậy ở những chỗ khác, và không ai ở đây biết loại cỏ có cái tên kỳ lạ “cỏ ngôi sao”. Nhưng lúc bấy giờ, sau khi nghe chị gái nói, cô còn sợ hãi hơn, vì hai chị em hoàn toàn đơn độc giữa đồng không mông quạnh. “Vanga nói về người kỵ sĩ nào vậy? Trên thực tế, chị ấy có thể trò chuyện với ai, thậm chí không thấy mở miệng?”
          Vào cái năm 1940 nặng nề ấy tất cả mọi người đều dễ bị ốm.
          Cuối mùa xuân, ông bố trở về Strumitsa. Một lần, ông bị ngã gãy tay. Vết thương mưng mủ và nhiễm trùng vào cả những vết thương cũ do bị tra tấn hồi đi tù. Suốt cả mùa hè, hai chị em chăm sóc bố. Một dạo, ông đã cảm thấy đỡ hơn, và mọi người bắt đầu hy vọng ông Pande sẽ khỏi bệnh. Chỉ có Lubka đêm nào cũng nghe thấy Vanga khóc nức nở. Cô đoán rằng chị gái biết bố sắp chết.
         Đến tháng 9, sức khỏe ông Pande đột nhiên suy sụp. Hai con trai về nhà để thay phiên nhau chăm sóc bố. Nỗi đau khổ xích họ lại với nhau. Nhưng sự túng thiếu kinh niên vẫn như xưa gõ cửa ngôi nhà này.
         Ngay từ sáng sớm, hai anh em ra bãi chợ với hy vọng tìm được một việc  gì làm. Đôi khi Vasil được thuê làm cửu vạn, còn Tome cọ rửa lò mổ cừu để buổi chiều được trả công  bằng một ít thịt đầu thừa đuôi thẹo. Nhưng thường thì họ không kiếm được việc làm, và cả hai tay không trở về nhà.
         Lúc bấy giờ đành phải nhịn đói. Một lần, ông bố nhớ tới một người bạn và sai Tome và Lubka đến vay một ít tiền.
        Nhưng ông bạn Christo Tudjarov mà hai anh em đến nhờ giúp đỡ không cho vay tiền, chỉ nói rằng sẽ trả công nếu họ hái hộ số bông còn sót lại trên cánh đồng của ông ta.
         Ngày hôm sau, từ sáng sớm, hai anh em ra đồng làm việc cật lực cả ngày. Dạo đó đang là tháng mười, trời rất lạnh. Những cơn gió luồn qua làn áo mỏng vào tận da thịt, bàn tay của họ trở nên tím tái vì giá lạnh.
          Chiều về, họ xuất hiện trước mặt “người bạn” của bố với một bao tải đầy bông. Ông ta ném vào chân Tome 2 đồng leva, và nói rằng Lubka còn bé không được trả tiền, rồi đóng sầm cánh cửa. Lúc bấy giờ, trên đường phố tuyết bắt đầu rơi nặng hạt.  Hai anh em lủi thủi trở về nhà, vừa đi vừa khóc vì đau khổ và tức giận, nước mắt của chúng chảy thấm ướt miếng bánh nướng vừa mua cho người bố ốm đau bằng số tiền kiếm được.
         Đầu tháng 11, ông Pande cảm thấy khó lòng qua khỏi. Ông cho gọi các con đến và nói: “Các con ơi, bố sắp qua đời. Các con sẽ ở lại và sống đến ngày mảnh đất của chúng ta lại sẽ trở thành đất Bulgaria. Tiếc rằng bố không sống đến cái ngày tươi sáng đó. Bố có một nguyện vọng đối với các con: khi những người Bulgaria đến đây, hãy gọi một người lính Bulgaria nào đó cắm lưỡi lê xuống mộ  bố, và bố sẽ hiểu rằng nước Bulgaria đã trở về! Các con hãy trở thành những người lao động trung thực và hãy lắng nghe Vanga. Bây giờ chị ấy là chỗ dựa của các con!”
         Ngày 8 tháng 11 năm 1940, ông bố qua đời ở tuổi 65.
        Suốt cả ngày các con túc trực bên linh cữu bố chờ làm lễ mai táng, nhưng linh mục không đến. Chúng không biết chôn cất bố như thế nào, vì trong nhà không có một xu.
          Một người hàng xóm từng làm việc ở nhà thờ thiên chúa giáo đến giúp đỡ. Ông kể cho vị linh mục về nỗi bất hạnh của những đứa trẻ mồ côi, rồi nhờ sự can thiệp và bảo lãnh của ông, ông Pande được an táng miễn phí ở nghĩa trang thiên chúa giáo.
         Tại lễ tang, khi nhìn thấy những đứa trẻ mồ côi, rách rưới, đói khổ, vị linh mục hiểu rõ chúng lâm vào hoàn cảnh khốn khổ như thế nào. Ông đã bộc lộ lòng từ bi chân chính: cho chúng một ít tiền lấy từ quỹ của nhà thờ.
         Lại bắt đầu những ngày nặng nề đầy khổ đau và túng thiếu. Và chỉ có sự chịu đựng vô biên, lòng kiên nhẫn và cá tính mạnh mẽ của Vanga mới giúp mấy anh chị em vượt lên nỗi tuyệt vọng.
         Là con cả, Vanga gặp khó khăn nhiều nhất, nhưng bằng tấm gương của mình cô đã cho các em biết cần phải kiên nhẫn như thế nào, không lùi bước trước khó khăn và hy vọng vào những gì tốt đẹp hơn.
         Chẳng bao lâu sau khi chôn cất bố, các em trai lại đi tìm việc làm thuê ở các làng. Vanga và Lubka sống với nhau rất lâu.
        Một thời gian sau, quân đội Bulgaria tiến vào thành phố Strumitsa. Theo lời căn dặn của ông bố, các con trai đã mời một người lính tên là Boris Yanev tới bên mộ bố. Anh ta đã cắm lưỡi lê xuống nấm mộ và nói: “Xin hãy yên nghỉ, một người Bulgaria trung thực”.

(Còn tiếp)
Read full post »

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

1 comments





NHỮNG THỬ THÁCH KHẮC NGHIỆT
Nhưng cuộc sống lại diễn ra theo cách khác. Tin từ Strumitsa đến khiến Vanga hết sức bàng hoàng.  Bà Tanka qua đời trong lần sinh đứa con thứ tư. Ông bố còn lại một mình với mấy đứa con không có sự giúp đỡ, hỗ trợ nào. Vanga buộc phải về nhà  để trông nom các em và làm công việc nội trợ.
Vanga không thể không nghe lời bố và bỏ mặc những người thân yêu của mình cho số phận. Không còn một sự lựa chọn nào khác, cô buồn bã từ biệt ngôi trường, mối tình đầu của mình lẫn niềm hy vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Vanga hiểu rằng những năm tháng tốt đẹp nhất trong cuộc đời mình ở Trường người mù sẽ không bao giờ lặp lại.
Ở nhà, Vanga chứng kiến cảnh nghèo khổ đến cùng cực. Những đứa em gầy trơ xương, ốm yếu vì đói ăn và bệnh tật. Trái tim cô thắt lại khi nghĩ rằng  những đứa trẻ bé bỏng này đã trở thành mồ côi. Vasil 6 tuổi, Tome - lên 4, còn em út Lubka mới 2 tuổi.
Giờ đây cô là tất cả đối với các em – vừa là mẹ vừa là người nội trợ, và người bảo vệ. Ý nghĩ đó đã đem lại cho cô sức lực để vượt qua bất cứ nghịch cảnh nào.
Sau khi Vanga trở về, ông bố đi kiếm việc làm ở các làng bên.
Nhưng những nỗi bất hạnh vẫn chưa chịu buông tha họ. Trận động đất ở thành phố Chirpan năm 1929 bao trùm cả khu vực Strumitsa. Tâm chấn của nó khá mạnh, nhưng may thay, trong gia đình ông Pande không ai bị thương, chỉ ngôi nhà đất của họ bị đổ sụp, và gia đình rơi vào cảnh màn trời chiếu đất.
Ông Pande buộc phải ngay lập tức lo chỗ ở mới. Sau vài ngày, ông đã dựng lên được một căn nhà mái tranh vách đất. Vì đồ đạc hầu như không có gì nên họ chuyển sang chỗ mới rất nhanh. Ban đầu nhà chỉ có một phòng, về sau được nới rộng, xây thêm phòng bếp và lò nướng bánh mỳ, tất nhiên khi có gì để nướng.
Vanga cố gắng tạo ra sự ấm cúng tại chỗ ở mới. Trong căn nhà này, Vanga và Lubka đã sống nhiều năm, các em trai không sống lâu ở đây. Ông Pande không thể một mình nuôi sống gia đình. Và để đỡ đần bố, Vasil và Tome cũng phải đi kiếm việc làm khắp các làng.
Vanga cố gắng sử dụng tất cả những kỹ năng học được ở Trường người mù. Cô đan áo rất đẹp và nhanh, nên ít lâu sau mọi người tìm đến đặt hàng. Thay cho tiền công, họ biếu cô những đồ vật lặt vặt hoặc áo len cũ. Cô tháo những chiếc áo cũ này ra và đan lại cho các em mặc vì không có tiền mua áo mới.
Những người láng giềng tốt bụng thấy Vanga đã chịu khó hết sức để nuôi nấng các em, lo ăn, lo mặc, quên cả bản thân mình. Và họ mang  quần áo của những người phụ nữ đã chết cho Vanga mặc.
Vanga học thêm nghề dệt, từ sáng đến tối trong nhà vang lên tiếng khung cửi. Thường thường Vanga dệt áo đến tận đêm khuya, vừa làm vừa khóc vì tuyệt vọng. Ban ngày cô tự kiềm chế để không làm Lubka sợ hãi, nhưng ban đêm cô phó mặc bản thân, và nước mắt là phương tiện duy nhất giúp cô trút đi nỗi đau khổ của mình.
Vào buổi sáng lại bắt đầu những công việc bất tận. Họ dậy rất sớm. Bản thân Vanga không bao giờ chịu ngồi không và không cho phép ai lười biếng. Cố cố gắng để trong nhà bao giờ cũng ngăn nắp, gọn gàng.
Tất cả mọi công việc được sắp xếp theo các ngày trong tuần. Ví dụ, thứ hai dành cho việc giặt giũ, thứ ba- quét dọn sân, thứ tư- sửa quần áo.
Lubka còn rất bé, nhưng không thể trông cậy vào ai. Vanga dạy em làm công việc nội trợ và tỏ ra rất nghiêm khắc.
Lubka buộc phải may vá. Vanga sờ chỗ may, và nếu thấy đường may không cẩn thận, cô tháo ra và bắt Lubka may lại.
Lubka lúc nào cũng nước mắt lưng tròng, vì em phải sửa nhiều quần áo,  không thể ra đường chơi cùng chúng bạn. Vanga, dù rất thương em, nhưng buộc phải kiên quyết. Cô cho rằng mọi việc cần phải làm đâu vào đấy.
Vào thứ 5, hai chị em nhào bột nướng bánh mỳ. Thứ 6, ra ngoại ô đào đất sét đỏ về trát vách phía bên trong nhà, còn ở bên ngoài, họ đặt đá đen xung quanh cho đẹp. Thứ bảy, họ ra đồng hái rau về ăn. Chủ nhật, hai chị em đi lễ nhà thờ.
Vào chủ nhật, sau bữa trưa, những người hàng xóm tụ tập ngoài sân để tán chuyện gẫu hay giải trí; những người phụ nữ từ các làng lân cận cũng đến đây nhờ Vanga dệt áo.
Vanga là một người đối thoại thú vị và sắc sảo, ai cũng thích trò chuyện với cô.
Ở vùng Strumitsa có một phong tục thú vị. Buổi tối trước ngày Thánh George (ngày 6 tháng Năm theo lịch mới), các cô gái thả vào trong hũ rượu sành một vật dụng cá nhân để “thử vận may”. Các cô gái láng giềng thường đặt hũ sành giữa sân nhà Vanga dưới bụi cây hoa hồng lưu niên màu đỏ thắm. Thường thường, có thể vì thương Vanga mù lòa, cô thường được chọn làm “nhà tiên tri”. Cô lấy các đồ vật ra và tiên đoán số phận của các cô gái. Những lời tiên đoán này thường trở thành hiện thực, nhưng không một ai, kể cả Vanga lẫn các cô gái, lúc bấy giờ nghĩ rằng có điều gì đó khác thường.
Vào Ngày lễ 40  Thánh tử đạo, các cô gái dự đoán số phận bằng cách đặt các nhành cây (làm “cầu”), hy vọng rằng đêm đến sẽ gặp trong mơ vị hôn phu đến từ bờ bên kia. Sáng hôm sau, các cô vội vã đến gặp Vanga, và cô…đã kể lại những giấc mơ của họ. Hơn nữa, khi giải thích những giấc mơ, Vanga thường vượt ra ngoài nội dung của chúng; cô còn kể về những gì không cần biết – về bí mật thầm kín nhất của mỗi người trong họ. Các cô gái hết sức ngạc nhiên, nhưng cũng chỉ có vậy.
Tuy nhiên, những ngày lễ vui nhộn thật hiếm hoi. Vanga thường xuyên đứng trước câu hỏi: “Làm sao nuôi sống gia đình?” Bởi cái nghèo bám họ không rời. Cuộc đấu tranh sinh tồn diễn ra gay gắt.
Họ chủ yếu ăn bánh ngô, cải bắp dại hoặc sữa chua pha loãng, nhưng cũng hiếm hoi và nói chung là nhịn đói.
 Một lần, khi trong nhà không còn gì ăn nữa, ông bố nhờ một trong những người quen khá giả mà ông coi là bạn thân, tương trợ ít bột mỳ. Anh ta trả lời rằng không có ý định cho không, nhưng có thể bán một bao bột mỳ nhỏ. Ông Pande đã vét hầu bao mua bao bột mỳ và gửi ngay về Strumitsa cho các con. Vanga nhóm bếp nướng bánh mỳ. Nướng xong, hai chị em bẻ những chiếc bành mỳ nóng hổi ra ăn.
Nhưng được một lúc thì Lubka và Vanga bắt đầu đau bụng, rồi nôn thốc nôn tháo. Sợ quá, những người hàng xóm vội chạy sang làng bên gặp ông bố để báo tin. Quá hốt hoảng, ông bố chạy về nhà, nếm thử bột và hiểu ra rằng ông bạn đã bán cho ông ta không phải bột lúa mạch mà là bột một loại cây rất độc.
Sự giúp đỡ của “ông bạn” là thế đấy.
Tuy nhiên, trẻ con vẫn là trẻ con, chúng luôn luôn mơ mộng, đòi bố mua hết thứ này đến thứ khác. Ông bố không bao giờ từ chối, chỉ hứa sẽ mua quà, khi thu hoạch mùa anh đào. Sáu cây anh đào mà bọn trẻ đặt niềm hy vọng, được trồng trong một mảnh vườn nhỏ ở ngoại ô, bên dòng sông Trakayna. Khi anh đào chín, ông bố hái bán cho những người mua hàng rong, nhưng số tiền thu được quá ít ỏi nên đành phải khất lời hẹn sang năm sau vậy.
Sau đó họ thử trồng thuốc lá. Cả gia đình chăm bón cây con từ sáng đến tối, nhưng số tiền bán thuốc lá cũng chỉ đủ mua một cái bình và ít mỳ vằn thắn.
Năm 1934, Lubka lên 8 tuổi, và được đến trường. Mặc dù cuộc sống rất khó khăn nhưng cô bé học giỏi nhất lớp. Vanga rất vui mừng và tự hào về những thành tích học tập của em gái.
Qua kinh nghiệm bản thân, cô biết việc học tập ở Trường người mù hữu ích như thế nào. Hoàn cảnh các em trai lại khác. Họ làm việc công nhật ở các làng khác nên không có điều kiện học tập đều đặn. Nhưng ngay cả khi không làm gì thì họ cũng không đi học. Và nếu như trong tất cả những chuyện khác, các em trai đều răm rắp vâng lời Vanga thì trong việc học hành, họ như nước với lửa.
Từ năm này sang năm khác, cuộc mưu sinh nhọc nhằn của họ vẫn tiếp diễn. Mặc dù kiệt sức và mệt mỏi, Vanga vẫn là người mạnh mẽ và kiên cường nhất trong gia đình. Cô không bao giờ cho phép mình phàn nàn về sự nghèo khổ trước mặt các em, và trở thành chỗ dựa không chỉ đối với chúng mà cả ông bố đã hoàn toàn suy sụp bởi sự đói nghèo, lăng nhục, thống khổ, và nhiều khi rơi vào tuyệt vọng. Vanga hết sức an ủi, động viên bố, và dự báo về những ngày tốt đẹp hơn.
Không làm sao thoát khỏi cảnh sống ngày ngày đứt bữa, ông bố nảy sinh ý định làm giàu nhanh bằng cách đi tìm kho báu.
Một lần, Vanga nói với bố rằng cô biết một nơi chôn kho báu như vậy, và mô tả vị trí đó nằm cách Strumitsa không xa: một ngôi làng hoang vắng, bên cạnh một con sông và cánh rừng nhỏ. Giữa con sông và cánh rừng nổi lên một tảng đá nhọn răng cưa, và dưới tảng đá này, theo lời mô tả của Vanga, người ta chôn tiền. Ông bố lấy làm ngạc nhiên và thở dài một cách hoài nghi.
Vanga vẫn chau mày và không nói một lời. Ông bố trở nên khó xử. Nghĩ ngợi một lát, ông cho rằng điều đó có thể xẩy ra. Ngôi làng có tên Rayantsy đã bị dân làng bỏ đi sau một nạn dịch hạch, và không bao giờ trở lại nữa. Nó nằm bên bờ một con sông nhỏ, quả thật, ở đó có một cánh rừng và tảng đá. Ông bố hỏi Vanga làm sao biết được chỗ ấy, và cô trả lời rằng cô nằm mơ thấy. Thế là ông  bảo Vanga cùng đến Ryantsy thử vận may xem sao.
Cả gia đình cùng lên đường. Lubka nhớ lại rằng Vanga định hướng rất tự tin, dường như đã đến đây nhiều lần, và tất cả đúng như cô đã miêu tả.
Họ đi men theo bờ sông phía dưới tảng đá, và ông bố quyết định sẽ trở lại đây muộn hơn, mang theo xẻng để thử vận may.
Thế nhưng sau đó ông bị ngã gãy tay. Rồi con sông bị ngăn lại để làm bể chứa nước. Thậm chí nếu có hũ tiền chôn thật  ở đấy thì nó cũng mãi mãi bị chìm dưới nước. Và giấc mơ làm giàu tan vỡ.
Chẳng bao lâu sau, một con cừu trong đàn cừu của ông Pande chăn, bị lạc. Ông bố trở về nhà với tâm trạng hết sức lo lắng vì ông chẳng có gì để bồi thường, ông sợ bị đuổi việc và gia đình ông sẽ chết đói. Đúng lúc đó, cô con gái mù đã ra tay giúp đỡ ông.
Vanga nói rằng con cừu lạc đàn hiện đang do một kẻ nào đó tên là Atanac ở làng Monospitovo chăn. Và cô mô tả chi tiết ngoại hình của ông ta. Ông bố vô cùng ngạc nhiên vì ngay cả ông cũng không biết con người đó, huống hồ Vanga vì cô chẳng bao giờ bước ra khỏi nhà. Nhưng dù sao ông vẫn tìm đường đến ngôi làng đó, và quả thật đã tìm được chú cừu bị lạc trong đàn cừu của con người mà Vanga mô tả.
Dắt chú cừu về nhà, ông bắt đầu gạn hỏi con gái vì sao biết được điều đó, và Vanga đáp rằng cô nằm mơ thấy. Cô thường buồn rầu nhắc đi nhắc lại rằng hay mơ thấy những chuyện rắc rối, và sau đó trở thành hiện thực.
Vào mùa lạnh, cuộc sống của họ còn khổ sở hơn. Họ chủ yếu sưởi ấm bằng quả sam mộc do hai chị em nhặt ở rìa thành phố. Nhưng quả sam mộc cũng chóng hết, hơn nữa không phải lúc nào cũng đi nhặt được. Đã thế ngôi nhà mái tranh của họ bị gió lùa thông thống.
Những gia đình nghèo nhất ở Strumitsa nhân dịp Năm mới được công xã trợ cấp một khoản tiền nhỏ, nhưng nhận được khoản trợ cấp này không phải dễ dàng. Vanga và Lubka phải đứng xếp hàng cả tuần trước tòa thị chính. Có lúc Vanga đứng chân trần hàng giờ trên nền xi măng lạnh cóng khiến đôi chân bầm tím vì lạnh.
Mặc dù thể lực khá tốt, năm 1930, Vanga bị bệnh viêm màng phổi. Trong vòng gần 8 tháng, sinh mệnh của cô như treo đầu sợi tóc. Lubka chăm sóc chị hết sức tận tình. Nhưng sức của khỏe Vanga càng ngày càng trở nên tồi tệ. Cô hoàn toàn kiệt sức, vào những ngày trời nắng, Lubka dìu chị ra ngoài phố như một đứa trẻ.
Năm 1939, trong một chiến dịch bầu cử, quần chúng bắt đầu thể hiện sự bất bình về đường lối của chính phủ Bungaria vốn xích gần với nước Đức. Các cuộc biểu tình và bãi công của quần chúng liên tiếp nổ ra. Tiếp sau đó là làn sóng bắt bớ diễn ra.
Trong số những người bị bắt có cả ông Pande: có ai đó tố cáo ông đã công khai tuyên bố về sự nguy hại của đường lối như vậy. Lại bắt đầu những cuộc hỏi cung có áp dụng các biện pháp “cực đoan”. Ông bị bắt khai tên của những người “cùng tham gia cuộc đấu tranh chống chính phủ”. Nhưng rồi họ cũng không phát hiện ra bằng chứng gì về tội lỗi của ông Pande; ông được trả lại tự do.
Khi ông Pande trở về nhà, cơ thể ông đầy những vết thương bầm máu, còn tâm hồn ông cũng bị tổn thương bởi những vết sẹo tinh thần. Ở tuổi 53, trông ông như một cụ già. Các con gái chăm sóc vết thương cho bố bằng những thứ thuốc dân gian họ có thể mua được. 
Còn chưa hoàn toàn bình phục mà ông Pande lại đi tuyên truyền vận động khắp các ngôi làng.
Đầu năm sau, Lubka bị bệnh viêm màng não. Em được đưa vào bệnh viện thành phố Shtip. Bệnh viện không còn chỗ trống, em phải nằm ngoài hành lang. Hai tuần liền Lubka giành giật sự sống với thần chết, nhưng có lẽ nhờ số phận nên em đã khỏi bệnh.

Trở về nhà, Lubka nhìn thấy Vanga hoàn toàn kiệt sức, ốm yếu và bất lực. Khi Lubka đi vắng, không ai một lần đến nhà, và Vanga nhiều ngày không ăn không uống. Cô vô cùng vui mừng vì Lubka trở về khỏe mạnh và lành lặn.
(Còn tiếp)
Read full post »

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

0 comments





                                TRƯỜNG NGƯỜI MÙ

Tại trường dành cho người mù, Vanga được đón tiếp lạnh nhạt. Phải nói rằng cô đã quen tự mình quan tâm tới người khác và giúp làm công việc nội trợ. Thêm vào đó, cuộc sống khốn khó của gia đình và nỗi bất hạnh đổ sụp lên đầu cô, không cho phép cô bộc lộ cá tính vui nhộn của mình.
Mọi thứ ở đây đều khác. Vanga được mặc bộ đồng phục học sinh cực đẹp, như cô cảm thấy, gồm chiếc váy màu nâu có nếp gấp và tấm áo khoác với cái cổ may theo kiểu thủy thủ. Cô đi đôi giày màu be. Mái tóc màu hạt dẻ của cô được cắt tỉa cẩn thận và búi rất đẹp. Mặc dù không thể nhìn thấy nhan sắc của mình, nhưng cô có thể sờ và vuốt ve rất lâu bộ quần áo mới của mình. Niềm tự hào và hạnh phúc tràn ngập tâm hồn vốn đã chịu nhiều đau khổ của cô.
Cuộc sống ở chỗ mới hết sức thú vị, mặc dù cần phải tuân theo một thời gian biểu nghiêm ngặt.
Buổi sáng, các học sinh phải lên lớp, các em học đọc và viết theo bảng chữ cái Braille, cho phép sờ bằng tay thay cho mắt. Các em còn được học nhiều thứ khác, nhưng Vanga thích âm nhạc hơn cả. Cô có một nhạc cảm tuyệt vời, và học chơi piano khá nhanh. Âm nhạc dường như đưa cô trở về với quê hương thân thuộc, nơi có cánh đồng bốn mùa xanh tốt và mặt trời tỏa ánh nắng rực rỡ, với mảnh sân trước nhà, nơi bọn trẻ chơi trò chơi đuổi bắt hoặc cô kể cho chúng nghe những câu chuyện của mình. Giai điệu vui tươi này gợi cô nhớ tới tiếng rì rào của dòng Trakayna chảy cách thành phố của họ không xa. Thật tiếc là những giờ học tuyệt vời này trôi qua quá nhanh.
Sau đó bắt đầu những tiết học thực hành. Các cô bé học nghề nấu ăn, học dọn dẹp trong nhà. Ban đầu Vanga gặp rất nhiều khó khăn: ngay cả việc làm thế nào để nấu món xúp hay cháo, cũng là một nhiệm vụ khó khăn đối với cô, nhưng dần dần cô tiếp thu được kỹ năng. Dường như cô học “nhìn” bằng tay. Những ngón tay của cô trở nên mềm mại và nhạy cảm, thậm chí cô sử dụng thành thạo cả những vật dụng như kim đan, kim khâu. Vanga tiếp thu bài rất nhanh, và tất cả giáo viên đều hài lòng với thành tích học tập của cô.
Vanga đã hòa nhập với cuộc sống mới. Ba năm lặng lẽ trôi qua, và cô đã tròn 18 tuổi. Cô là một học sinh xuất sắc và đạt nhiều thành tích. Ngôi trường này đã giúp cô lấy lại sự thăng bằng và tìm thấy niềm vui trong cuộc sống. Cô có một ngoại hình dễ thương, và gương mặt thanh tú của cô dường như được tỏa sáng bằng ánh sáng nội tâm.
Vanga đối xử với tất cả các bạn của mình khá đúng mực, nhưng thời gian gần đây cô nhiều lần bắt gặp ý nghĩ rằng cô thích nghe giọng nói dễ chịu của Dimitr và ở gần anh ta. Cô không thể hiểu điều gì đang diễn ra với mình. Khi nghe anh nói  trái tim cô bắt đầu đập rộn ràng và hai má bỗng nhiên ửng đỏ.
Những giây phút hiếm hoi được ở bên nhau đã mang đến cho cả hai biết bao hạnh phúc và niềm vui thánh thiện, khiến cho họ lại muốn gần nhau thêm nữa.

 Một lần, Dimitr thổ lộ rằng đã yêu cô và đề nghị cô làm vợ của anh. Bản thân anh xuất thân từ làng Giaoto quận Gevgelia. Bố mẹ anh là những người giàu có. Họ nhận thấy tình cảm chân thành của đôi bạn trẻ và nhận trách nhiệm quan tâm chăm sóc tương lai của  họ. Vanga hoàn toàn thay đổi. Cô như được hạnh phúc chắp cánh. Cô đã có những dự định cho tương lai, cô hình dung về đám cưới kỳ diệu của mình, về việc cô xuất hiện trước các vị khách trong bộ trang phục lộng lẫy: chiếc váy dài màu trắng và tấm khăn voan. Rồi bố cô và những người ruột thịt sẽ vui sướng xiết bao. Cô thông báo cho bố về việc Dimitr xin đính hôn và xin ông chúc phúc. Những ngày chờ đợi kéo dài lê thê.

(Còn tiếp)
Read full post »

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016

0 comments
         


         BẤT HẠNH

Cô bé Vanga 12 tuổi cũng phải làm việc nhà. Cô cưỡi chú lừa con vào làng  chở  sữa về trong hai bao da.
Một lần vào mùa hè, trên đường trở về làng, Vanga cùng với hai em gái họ rẽ vào một suối nước nằm ở ngoài cánh đồng, cách đường cái không xa. Không ai biết điều gì đã diễn ra ở đấy.
Cháu họ của Vanga, Krasimira Stoyanova, kể lại sự việc này như sau:
“Bỗng nhiên một trận cuồng phong ập đến. Bầu trời tối sầm, gió thổi điên loạn quật gãy các cành cây, những  cây non bật gốc cùng với đất cát bị gió ném ra xa trên cánh đồng. Một cột bụi khổng lồ dựng lên cao chót vót tận bầu trời. Bụi, đất, cành cây và lá hòa lẫn với nhau tạo thành một cơn lốc khủng khiếp quật hai chị em  đang lặng người đi vì khiếp sợ ngã xuống cách nguồn nước không xa, còn Vanga bị cuốn  về phía cánh đồng. Không biết cơn cuồng phong kéo dài bao lâu? Không ai còn nhớ điều đó. Một lúc sau, người ta tìm thấy Vanga nằm bất tỉnh, bị bụi, đá và cành  cây vùi lấp trên cánh đồng. Cô dường như  mất trí vì sợ hãi, hai  con mắt đau đớn khủng khiếp vì bị cát bụi lấp đầy không làm sao mở ra được”.
Khi Vanga được đưa về nhà, mọi người tìm mọi cách chăm sóc, chữa trị cho cô, nhưng  vô hiệu. Ông bố hết sức tuyệt vọng. Ông tự trách mình đã chuyển gia đình về Novo-Selo. Ông cho rằng, nếu ở quê cũ có thể đã không xảy ra tai họa như vậy. Cuộc sống ở nhà người em trai không những không trở nên dễ chịu đối với con gái và gia đình mà còn gây ra nhiều khó khăn mới. Ông Pande quyết định trở về Strumitsa, và tìm cách chữa bệnh cho con.
Tin về vụ tai nạn nhanh chóng lan ra khắp cả vùng. Những người quen lẫn không quen biết đều tìm cách giúp đỡ trong chừng mực có thể: họ giới thiệu với ông Pande các loại thảo dược và thuốc bôi hiệu nghiệm đã từng gặp trong cuộc sống của  mình. Nhưng trường hợp tương tự như đã xảy ra với Vanga thì cả họ lẫn những người già cũng chưa bao giờ được chứng kiến, nói gì đến chuyện giúp đỡ…
Ông Pande đến gặp bác sĩ. Ông ta nói rằng tình hình rất nghiêm trọng, mắt Vanga bị viêm nặng và cần phải mổ gấp để phục hồi thị lực.
Ông bố đã quyên góp được khá nhiều tiền để điều trị cho con. Ở Skopla, Vanga được làm phẫu thuật, nhưng không có kết quả. Chiếu cố tình trạng bệnh tật của cô bé và hoàn cảnh kinh tế khó khăn của gia đình, Vanga được làm phẫu thuật thêm một lần miễn phí. Nhưng cũng vô hiệu.
Các thầy thuốc khuyên ông Pande đưa con gái đi làm phẫu thuật một lần nữa ở Beograd.
Lại le lói tia hy vọng, và ông bố đồng ý. Ngày làm phẫu thuật được ấn định, nhưng ông Pande mới chỉ vay được một số tiền ít ỏi, 5000 dinar.
Ông Pande rơi vào tuyệt vọng vì không biết làm thế nào kiếm đủ số tiền. Bản thân ông gần như là kẻ ăn mày. Không thể vay được một số tiền lớn như vậy, những người hàng xóm cũng không có.
Hoàn cảnh trở nên hết sức bi đát. Bỗng lúc đó ông Pande sực nhớ rằng trước đây bà ngoại của Vanga, mẹ vợ đầu của ông, hứa cho cháu ngoại một mảnh đất. Và mặc dù sau khi mẹ của Vanga qua đời, quan hệ giữa bà mẹ vợ và con rể trở nên căng thẳng, ông vẫn đến nhờ bà giúp đỡ. Ông Pande xin bà ngay lập tức bán mảnh đất lấy tiền cho cháu làm phẫu thuật. Nhưng ngay cả nỗi bất hạnh cũng không làm lung lay bức tường ghẻ lạnh đã mọc lên giữa họ, và bà mẹ vợ dứt khoát từ chối giúp đỡ.
Trong khi đó, thời điểm làm phẫu thuật đã cận kề. Ông Pande bán tất cả những gì còn lại: chiếc máy khâu – kỷ vật về người vợ đầu tiên, và cả con cừu độc nhất. Ngoài ra trong nhà không có gì nữa. Cộng thêm một ít tiền vay mượn. Nhưng tất cả những gì ông nhặt nhạnh được một cách khó khăn như vậy cũng may ra mới trang trải được một nửa số tiền cần thiết.
Được biết một người hàng xóm giàu có chuẩn bị đến Beograd thăm con trai, Pande quyết định nhờ ông ta đưa Vanga đi làm phẫu thuật, bởi vì ông không đủ tiền tự mình đưa con gái đi. Người hàng xóm đồng ý giúp đỡ ông Pande khốn khổ. Họ đến bệnh viện một ngày trước khi Vanga làm phẫu thuật.
Người hàng xóm gặp bác sĩ và chuyển số tiền của Pande quyên góp được. Bác sĩ nổi giận vì một quý ông đường hoàng, ăn mặc lịch sự như vậy mà lại trả cho ông ta một số tiền công quá ít ỏi. Ông ta cho rằng người bà con giàu có này đã ăn bớt tiền của cô bé nghèo. Không hé răng với người hàng xóm, chiều hôm đó bác sĩ gọi Vanga vào phòng làm việc và nói:
“Này cô bé, sáng mai ta sẽ phẫu thuật cho cháu, nhưng vì bố cháu chỉ mang tới một nửa số tiền, vì vậy ta sẽ làm một “nửa” phẫu thuật. Bao giờ bố cháu nộp đủ tiền, ta sẽ mổ nốt mắt bên kia!”
Rõ ràng, ông ta nói điều đó trong cơn tức giận.  
Sau cuộc phẫu thuật đó, Vanga có thể nhìn được chút ít. Bác sĩ nói rằng để tiếp tục cải thiện sức khỏe cô bé cần ăn uống đầy đủ, sự yên tĩnh và vệ sinh sạch sẽ. Nhưng gia đình vẫn nghèo khổ như xưa. Tất nhiên, họ không có điều kiện cần thiết để phục hồi sức khỏe của Vanga.
Năm 1924, gia đình lại có thêm người, và bây giờ họ đã có 5 nhân khẩu. Cậu bé mới sinh được đặt tên là Toms. Để nuôi sống gia đinh ông bố đã phải làm việc cật lực. Ông buộc phải đi cày thuê cuốc mướn ở các làng. Vợ ông làm ruộng, còn Vanga là chị cả phải làm nội trợ và trông nom các em.
Hoàn cảnh đó vốn rất khó khăn ngay cả đối với người khỏe mạnh, còn đối với một cô bé yếu ớt lại gần như mù lòa thì quả là hết sức gay go. Tình hình càng ngày càng tệ - mắt Vanga lại mờ đi, và cô bé hoàn toàn bị mù. Bây giờ là vĩnh viễn. 
Đối với Vanga và tất cả những người ruột thịt của cô đây là một thảm kịch thực sự. Vốn là một cô bé đã can đảm chịu đựng bao nhiêu nỗi thống khổ với hy vọng hồi phục sức khỏe, Vanga bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng. Bao nhiêu đêm liền cô đã khóc và cầu nguyện Thượng đế giúp đỡ, hy vọng vào điều kỳ diệu. Nhưng tất cả vẫn không có gì thay đổi.
Biết bao nhiêu ngày tháng đằng đẵng không thể chịu nổi nối nhau qua. Vanga hoàn toàn bất lực và càng thêm đau khổ vì không những không thể giúp đỡ gì cho bố mẹ mà còn trở thành gánh nặng. Còn họ thì hoàn toàn kiệt sức.
Tưởng như không thể tìm thấy lối thoát nào nữa khỏi tình thế khó khăn. Nhưng một lần, những người hàng xóm mách với họ rằng ở thành phố Zemun ( Serbia) có Trường dành cho người mù, nơi học sinh được chăm sóc chu đáo. Nếu Vanga được nhận vào đó thì sẽ rất tốt. Ông Pande bắt đầu tìm cách xoay xở.
Năm 1925, Trường người mù đồng ý tiếp nhận Vanga. Một bước ngoặt trong cuộc đời đã diễn ra với cô bé. Vanga đã tròn 15 tuổi. Điều gì sẽ chờ đợi cô ở cái thành phố xa lạ giữa những con người xa lạ? Cô sẽ phải sống xa gia đình và những người thân bao lâu? Mỗi lần nghĩ về điều đó và về cuộc chia tay với gia đình, nước mắt cô bé tự nhiên trào ra.
Cuộc chia tay diễn ra vào một buổi sáng mùa xuân đẹp trời. Vanga bé nhỏ, gầy gò trở nên hết sức bối rối.  Cô cố mường tượng trong ký ức tất cả những hình ảnh thân thuộc. Giờ đây cô cảm nhận thế giới bằng thính giác. Trước đây cô không ngờ rằng thế giới âm thanh phong phú đến như vậy.

Một làn gió nhẹ luồn qua bờ giậu, khẽ lay những khóm  thiên trúc quỳ và đinh tử hương. Những chú mèo chạy trên vạt cỏ non, mặt trời tỏa ánh nắng xuống ngọn cây mận, một tia nắng vờn trên má Vanga. Những cảm giác đó in đậm trong ý thức của Vanga, và cô bé nhớ mãi suốt cuộc đời.
(Còn tiếp)
Read full post »

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2016

0 comments

                        CON ĐƯỜNG CỦA VANGA
          Vanga là nhà tiên tri, nhà nghiên cứu thảo dược nổi tiếng của Bulgaria. Bà sinh ngày 31 tháng 1 năm 1911 và mất ngày 11 tháng 8 năm 1996.  Tên khai sinh của bà là Vangelia Pandeva Dimitrova, sau khi kết hôn đổi thành Vangelia Gushcherova. Bà bị mù từ năm 12 tuổi và sống gần trọn cuộc đời ở vùng Rupite, thuộc dãy núi Kozhuh, Bulgaria.  Sinh thời, rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới đã đến gặp bà để chữa bệnh hoặc xin lời khuyên về những vướng mắc trong cuộc sống, và tiên đoán tương lai. Sau đây chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số chương trong cuốn sách “Con đường của Vanga” của tác giả Bogdanovich V.F.  
THỜI THƠ ẤU CỦA VANGA
Thời trẻ, ông Pande Surchev tham gia đội nghĩa quân vũ trang chiến đấu chống lại ách đô hộ của đế quốc Osman. Ông bị người Thổ Nhĩ Kỳ bắt và kết án chung thân. Trong nhà tù “Edi kule”, ông bị tra tấn dã man và tưởng như mất hy vọng được cứu thoát, nhưng năm 1908, những người Thổ trẻ tuyên bố Thổ Nhĩ Kỳ là nước quân chủ lập hiến, và chính phủ mới đã giải phóng các tù nhân.
Pande trở về làng quê Novo-Selo của mình, nhưng ở đấy không còn ai thân thích. Bố mẹ đã qua đời mà không kịp gặp con trai, còn người em trai bỏ đi đâu đấy và mất tích. Ít lâu sau, được tin ở thành phố Strumitsa, công xã phân phát những ngôi nhà bị người Thổ bỏ lại cho những người di cư, Pande lên đường tới đó tìm kiếm  hạnh phúc.
Ông được phân một ngôi nhà cũ nằm ở ngoại ô thành phố.
Khu phố có tên là “Svetiko” nằm cạnh nhà thờ Mười lăm vị Thánh Tử vì đạo.Những ngôi nhà ở đây được xây bằng gạch, giống hệt nhau, trông rất cũ kỹ. “Svetiko” giống  một ngôi làng bị bỏ hoang hơn là vùng ngoại ô thành phố. Những con đường hẹp, lầy lội và bẩn thỉu, vào ban đêm, không nhìn thấy gì. Những khoảng  sân nhỏ được bao quanh bởi bờ giậu bằng cây mận gai. Trong sân, lũ súc vật nhởn nhơ đi lại, ban đêm chúng bị nhốt ở tầng dưới các ngôi nhà hoặc ngay trong các phòng ở. Tất cả cư dân ở  đều mới chuyển đến thành phố từ các làng lân cận để kiếm việc làm. Họ chủ yếu là nông dân, thợ thủ công hay tiểu thương.
Nổi bật trong khu phố là một vài gia đình người Zigan ồn ào và một gia đình người Thổ tên là Gyul-baba không muốn hồi hương. Người ta nói đùa rằng ông ta không muốn đi vì vườn hồng không cho phép. Thực ra, trong khu vườn của ông ta, hoa hồng nở từ đầu xuân đến cuối thu, tỏa hương thơm ngát khắp cả vùng.
Pande bắt đầu thích nghi với nơi ở mới. Cơ thể trẻ trung nhanh chóng hồi phục sau những năm tháng lao tù và hoạn nạn. Anh mua một miếng đất nhỏ và chăm chỉ làm việc. Anh là một chàng trai hiền lành, yêu lao động, sống chan hòa với những người láng giềng  của mình, cũng là dân di cư như anh.
Một thời gian, Pande sống độc thân. Nhưng sau đó anh phải lòng một cô gái dịu dàng và nhanh nhẹn tên là Paraskeva. Nàng có thân hình mảnh dẻ, nhưng  nhanh nhẹn và dễ thương. Pande ngỏ lời cầu hôn và được nàng ưng thuận.  Chẳng bao lâu họ bắt đầu cuộc sống gia đình. Người vợ trẻ tính tình vui vẻ, sống ngăn nắp, sạch sẽ và biết vun vén cho tổ ấm gia đình. Nàng giúp chồng làm ruộng và thường xuyên hỗ trợ anh.
Ngày 31 tháng Giêng năm 1911, con gái đầu lòng của họ ra đời.
Cô bé đẻ non lúc mới được 7 tháng và rất yếu, các ngón tay và ngón chân dính liền với nhau, và không cất tiếng khóc chào đời. Ngay cả các cụ già từng trải cũng không tin rằng cô bé có thể sống sót.Người ta quấn đứa hài nhi vào mảnh vải len, rồi đặt nằm cạnh bếp lò.
Một thời gian sau, ấy là vào dịp tháng Ba, đứa bé bỗng nhiên khóc thét lên giữa đêm khuya. Những bà cụ thông thái giải thích cho người mẹ đang lo lắng rằng cô bé thực sự ra đời vào chính thời điểm đó.
Ở Strumitsa, thông thường người ta chưa đặt tên cho đứa trẻ nếu không tin chắc rằng nó sống sót. Cũng theo phong tục cổ, bố mẹ hoặc những người thân không được đặt tên cho đứa trẻ. Một người nào đó trong gia đình phải đi ra đường và nhờ người gặp đầu tiên đặt tên cho nó.
          Và vào buổi sáng sau khi cô bé bắt đầu cất tiếng khóc, bà ngoại của cô ra đường và nhờ một người phụ nữ gặp đầu tiên đặt tên cho đứa trẻ sơ sinh. Bà ta đặt là “Andromaha”. Nhưng bà ngoại không thích cái tên ấy, bà đến gặp một phụ nữ qua đường khác; bà này đặt là “Vangelia”. Cái tên Hy Lạp này có nghĩa là “người mang đến tin lành”. Và mặc dù đây là cái tên “ngoại lai”, nhưng ở Strumitsa, nó rất phổ biến, và bà ngoại đồng ý đặt cho cháu bé.
Trong gia đình, mọi người gọi cô bé là Vanga. Cô bé ngày càng cứng cáp và chẳng bao lâu, trông chẳng khác gì các bạn cùng trang lứa. Năm Vangelia lên ba tuổi, mẹ qua đời trong lần sinh con thứ hai. Nỗi bất hạnh không dừng lại ở đó. Thế chiến thứ nhất bùng nổ, và năm 1915, bố cô được động viên vào quân đội Bungaria.
Một người đàn bà Thổ rất hiền lành và nhân hậu tên là Asanitsa, sống cạnh nhà, đã đưa cô bé về nuôi. Năm tháng nối nhau trôi qua, cuộc sống đầy khó khăn, cực nhọc. Người ta chờ ông bố của Vanga trở về, nhưng đã ba năm trôi qua rồi mà ông vẫn biệt vô âm tín. Mọi người bắt đầu nghĩ rằng ông đã chết?.. Có thể, cô bé đã mồ côi cả cha lẫn mẹ?
Tuy nhiên, mọi sự hoài nghi hóa ra vô ích. Chẳng bao lâu ông bố sống sót trở về và vẫn khỏe mạnh. Nhưng không chỉ con gái mà cả những người hàng xóm cũng khó khăn lắm mới nhận ra ông vì ông quá gầy gò và hốc hác.
Vanga và bố vẫn tiếp tục sống trong ngôi nhà cũ. Nhưng ông Pande sống độc thân không dễ dàng. Còn Vanga – cô bé có mái tóc màu hạt dẻ và cặp mắt xanh da trời - đã tròn 7 tuổi. Vốn hiếu động và thất thường, cô cần tình cảm và sự chăm sóc của một người mẹ. Ông bố hết sức lo lắng cho tương lai của Vanga.
Mặc dù chiến tranh đã kết thúc, nhưng vẫn như xưa, những người dân sợ hãi và cảm thấy bất an. Chính quyền mới được thiết lập ở Strumitsa, nó chuyển về tay của một thị trưởng người Serbia. Bây giờ người dân thành phố phải nói và viết bằng tiếng Serbia. Các quan chức địa phương áp dụng những luật lệ hà khắc và bao điều cấm kỵ khác nhau. Nhiều người dân khó khăn lắm mới hiểu được những mệnh lệnh phức tạp, và lo lắng nhìn về tương lai. Một số người bỏ quê hương xứ sở. Cả ông Pande cũng nghĩ rằng tốt nhất là nên ra đi, nhưng vì con gái nên không quyết định làm điều đó.
Nhưng bọn trẻ con thì có cuộc sống riêng của chúng. Trong nhà ông Pande, lúc nào cũng vang lên tiếng trẻ nô đùa. Lũ trẻ con trong vùng chết mê chết mệt  vì những trò chơi Vanga bày ra nhờ tính tình sôi nổi và vui nhộn của mình. Trò chơi yêu thích của cô bé có tên là “ở bệnh viện”. Vanga đóng vai “thầy thuốc”. “Bệnh nhân” ngồi chờ trong sân, còn thuốc là các thứ cỏ mọc nhan nhản khắp xung quanh giúp chữa khỏi các loại “bệnh” khác nhau.
Giống như mẹ mình, cô bé rất thích sạch sẽ và ngăn nắp. Cô cũng yêu cầu các bạn quét sân sau khi “chữa bệnh”. Quét xong, Vanga bảo tất cả ngồi quanh mình trên một tấm chiếu gai.  Lũ trẻ sốt ruột chờ đợi giây phút này. Còn Vanga bắt đầu kể cho chúng vô số chuyện do cô tự bịa ra. Cả bọn nín thở lắng nghe.
Một mình ông Pande rất vất vả trong việc quản lý kinh tế và giáo dục con gái. Ông thường nghĩ về việc đi bước nữa. Không thể nói ông là một đám béo bở: đã nghèo, góa vợ lại còn phải nuôi con nhỏ. Nhưng may mắn đã mỉm cười với ông. Ít lâu sau, một trong những cô gái xinh đẹp nhất thành phố, Tanka Georgievna,  đã trở thành vợ ông.  Một sự kiện không may trong gia đình Tanka đã trở thành cơ hội đối với ông.  Tanka chuẩn bị cưới một sĩ quan Bungaria, nhưng cuộc hôn nhân tan vỡ vì một chỉ thị vô lý của ban lãnh đạo Serbia. Theo đó tất cả phụ nữ ít nhiều có dính líu tới các sĩ quan hay binh sĩ Bungaria phải ngay lập tức cùng gia đình rời khỏi Strumitsa. Để tránh điều ong tiếng ve và bị trục xuất khỏi thành phố, Tanka nhận lời cầu hôn của Pande và lấy ông làm chồng.
Người vợ trẻ trở thành một nữ nội trợ giỏi và người mẹ tận tình, nhưng chồng cô cũng không có lý do gì làm vợ thất vọng, ông là một con người tử tế, chu đáo và cần cù lao động. Mọi chuyện diễn ra không thể nào tốt đẹp hơn. Bầu không khí gia đình bình yên và hòa thuận. Nhờ sự cần cù lao động và kiên nhẫn của ông Pande, công việc gia đình ngày càng tấn tới, diện tích đất của gia đình dần dần mở rộng lên 9 hecta. Vào mùa thu hoạch, khi các thành viên trong gia đình làm không xuể, ông Pande thậm chí phải thuê mướn nhân công. Mọi người tỏ ra kính trọng ông.
Nhưng sự bình yên và hạnh phúc kéo dài không lâu. Những đám mây đen lại bao phủ bầu trời Strumitsa. Ban lãnh đạo mới tìm mọi cách biến những người dân địa phương thành người Serbia. Một gã có tên Popchevsky đã trở thành người thực hiện đắc lực chiến dịch này. Y được lệnh quyết định số phận mọi người theo ý mình. Và ngay lập tức bắt tay “xử lý” những người gốc Bungaria hoặc những người có cảm tình với dân Bungaria. Popchevsky không bỏ qua quá khứ của Pande. Một lần, trong lúc thu hoạch  vụ mùa, Pande bị bắt và giải lên đồn. Ông bị đánh đập và tra tấn, rồi trả về nhà, nhưng chẳng bao lâu ruộng đất bị tịch thu.
Tai họa lớn đến mức gia đình ông Pande nhiều năm liền không kịp hoàn hồn và rơi vào cảnh bần cùng. Ông Pande không còn lối thoát nào khác là đi làm thuê. Một sự kiện tưởng vui mừng như sinh con, trong hoàn cảnh mới của họ, chỉ thêm gánh nặng. Năm 1932, bà Tanka sinh một bé trai, được đặt tên là Vasil. Ông bố đi chăn súc vật thuê ở một làng bên cạnh, sau chuyển sang làng khác…Ông không thể gượng dậy được nữa.

Vanga đã lên 11 tuổi. Cô chăm chỉ giúp đỡ việc nhà. Vừa trông em vừa nghĩ ra những trò chơi để tự chơi một mình. Nhưng một trong những trò chơi “huyền diệu” của cô đã khiến bố mẹ lo lắng. Sự bất thường của nó ở chỗ cô đóng vai một “người mù”. Ví dụ, cô để ngoài đường hay cạnh nhà một vật nào đấy và bắt đầu đi tìm nó, sờ soạng khắp nơi, như là người mù. Bố mẹ tìm cách cấm Vanga chơi trò đó, nhưng cô không nghe.  Trong thời gian đó, em trai của ông Pande, Konstadin, được tin về hoàn cảnh gia đình của anh trai. Số phận của Konstadin diễn ra may mắn hơn: ông trở nên giàu có, cưới vợ, nhưng Trời không cho ông con cái. Biết tin gia đình anh trai gặp hoạn nạn, Konstadin mời họ chuyển đến ở với mình. “Việc gì phải chịu khổ ở Strumitsa, tốt nhất hãy đến giúp em chăn súc vật, em sẽ không phụ công anh”. Lời mời được chấp nhận, và năm 1923, gia đình chuyển về Novo-Selo.
(Còn tiếp)
Read full post »
 

Google+ Followers

© 2012 TRẦN ĐÌNH HẬU . Designed by Nitin Maheta, Powered by Blogger